Ngày 06-07-2013
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Mỗi ngày một câu chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
04:49 06/07/2013
THUỐC TIÊN KỲ DIỆU
N2T

Có một người bị bệnh phong hủi tên là Trương Khu, vì không muốn bệnh của mình lây truyền cho người khác, thế là anh ta cáo biệt người nhà rồi đi lên trên núi ở một mình. Một hôm, có một ông tiên tóc bạc đến trong núi nhìn thấy Trương Khu cô độc khốn khổ như thế bèn trò chuyện với anh ta, biết anh ta vì yêu thương gia đình nên mới cam nguyện lên núi ở một mình, ông tiên tóc bạc móc cái hồ lô đựng thuốc ra, đổ ra mấy viên thuốc bằng nhựa thông đã tinh chế đưa cho Trương Khu, Trương Khu sau khi nghe lời chỉ dẫn của ông tiên mà uống thuốc, thì không những hết bịnh, mà da dẻ lại được hồng hào mạnh khỏe.
Ba tháng sau ông tiên tóc bạc lại xuất hiện, Trương Khu hớn hở không ngớt nói lời cám ơn với ông tiên, lại còn lấy được phương thuốc tiên và muốn giúp đỡ những người bệnh phong hủi
Sau khi Trương Khu xuống núi thì cứu chữa được rất nhiều người, mà anh ta và những người trong gia đình vẫn luôn luôn uống thuốc của ông tiên tóc bạc, cho đến khi anh ta được hai trăm tuổi thì mới lên trời thành tiên.
(Tấn, Cát Hồng “Bao Phác Tử”)

Suy tư:
Đức Chúa Giê-su nói: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế...” (Mt 9, 13) Trương Khu tuy chưa được nghe Lời Chúa trong Phúc Âm, nhưng anh ta bản tính lương thiện và có lòng yêu thương người, tâm hồn như thế chắc chắn sẽ được sự thương xót bởi trời.
Con người ta quý nhất là cái tâm hay còn nói là tấm lòng, mất đi cái tâm thì không còn tư cách để làm con người nữa, bởi vì cái tâm là biểu hiện sâu thẳm nhất của tình yêu, ai không còn cái tâm thì đồng thời họ cũng không còn biết yêu thương và cảm thông với người đồng loại.
Thời nay có rất nhiều người có quyền, có địa vị và có tiền đã đánh mất đi cái tâm của mình, nên họ bị người đời rủa sả, bởi vì:
- Tiền bạc làm người có địa vị mất đi cái tâm.
- Quyền hành làm cho người có quyền thế mất đi cái tâm.
- Sự bừa bãi mất nhân cách làm cho người giàu có mất đi cái tâm.
Lòng nhân từ thì quan trọng hơn lễ tế, bởi vì người có tiền có thể đem những lễ vật cao sang đến nhà thờ dâng cúng nhưng không có cái tâm; nhưng lòng nhân từ thì phản ảnh lại lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người tội lỗi, phản ảnh lại sự yêu thương của Đức Chúa Giê-su chết trên thập giá vì yêu thương nhân loại.
Không có lóng nhân từ thì linh mục sẽ trở thành cái bóng của ma quỷ, không có lòng nhân từ thì người tu sĩ sẽ trở thành gánh nặng cho tha nhân.
-------------
http://jmtaiby.blogspot.com
http://www.vietcatholic.net/nhantai
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
 
Mỗi tuần SỐNG một câu Lời Chúa
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
04:52 06/07/2013
Chúa Nhật 14 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Lc 10, 11-12; 17-20.
“Bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy”.


Bạn thân mến,

“Lúa chín đấy đồng, mà thợ gặt thì ít”, câu nói này của Đức Chúa Giê-su chúng ta đã nghe rất nhiều lần trong cuộc sống, và theo thói quen tốt lành của mỗi nơi, mà chúng ta dành ngày thứ năm mỗi tuần để cầu nguyện cách riêng cho các “thợ gặt” truyền giáo, là các linh mục, cũng như cầu nguyện cho ơn gọi làm linh mục tu sĩ trong Giáo Hội.

Đức Chúa Giê-su mời gọi bạn và tôi cầu xin chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến, và vì chúng ta bấy lâu nay chỉ hiểu thợ gặt chính là các linh mục và các tu sĩ nam nữ mà thôi, nên chúng ta quên mất có rất nhiều thợ gặt khác đang âm thầm hoặc công khai làm việc trên cánh đồng truyền giáo, đó chính là bạn và tôi và những người Ki-tô hữu khác, họ là những thợ gặt của thời hiện đại, trong tâm tình đó tôi xin chia sẻ với bạn mấy vấn đề sau đây :

1. Cha mẹ cũng là thợ gặt truyền giáo.
Trước hết, có một vấn đề mà chúng ta phải công nhận: gia đình là cánh đồng nhỏ mà thợ gặt không ai khác hơn chính là cha mẹ, nhưng thời hiện đại này thì gia đình không còn nhỏ nữa mà chúng đã biến thành lớn với một vài đứa con trong gia đình, bởi vì cuộc sống văn minh hiện đại đã làm cho chúng nó mất đi phương hướng về tôn giáo và tín ngưỡng mà chúng nó đã lãnh nhận, do đó cha mẹ phải chính là người thợ gặt nhiệt thành lo lắng cho con cái mình, biết dạy dỗ chúng nó trở thành những “hạt lúa béo đầy ắp sữa ân sủng” của Chúa.

Hiện tượng chỉ có những người già, những người lớn tuổi mới đi tham dự thánh lễ nơi các nước phát triển là bức tranh rất thực tế, bởi vì các bạn trẻ và ngay cả các trẻ em cũng ít đi lễ nhà thờ, nguyên nhân khách quan thì đã rõ, nhưng nguyên nhân chủ quan thì nằm ngay trong gia đình của các em như: bận học hành vui chơi mà không có thời gian đi thờ, và đời sống tâm linh của cha mẹ cũng ảnh hưởng rất lớn trên con cái, như cha mẹ ít nhắc nhở con cái sống đạo, cha mẹ không mặn nồng với giáo xứ, không thiết tha đi tham dự thánh lễ…

Cha mẹ sẽ là thợ gặt lành nghề trên “cánh đồng” truyền giáo của mình khi họ có đời sống đạo đức tốt lành và kiên trì, đức tin của cha mẹ là công cụ gặt hái hiện đại và hiệu quả nhất trong gia đình của mình, với tinh thần hy sinh và cầu nguyện, cha mẹ sẽ trở nên những thợ gặt mẫu mực cho con cái của mình. Do đó, khi mà chúng ta ngồi buồn bực vì con cái không nghe lời mình để đến tham gia các sinh hoạt của nhà thờ, chi bằng chúng ta quyết tâm trở nên những thợ gặt nhiệt thành nhất trong gia đình của chúng ta, bằng cách làm gương sáng cho chúng nó…

2. Mỗi giáo dân là một thợ gặt.
Các linh mục và các tu sĩ nam nữ đương nhiên là những thợ gặt chuyên môn trên cánh đồng truyền giáo, các vị ấy với những năm tháng được huấn luyện để trở thành những thợ gặt chuyên nghiệp, nhưng họ vẫn còn quá ít và thiếu trên cánh đồng truyền giáo rộng lớn bao la, cho nên, mỗi giáo dân là mỗi thợ gặt trong hoàn cảnh cuộc sống của mình, đó là một đòi hỏi của Đức Chúa Giê-su trong thời đại ngày nay.

Qua bí tích Rửa Tội, người Ki-tô hữu đã trở thành một chi thể của Giáo Hội, một công dân của Nước Trời và là một thợ gặt trong cánh đồng truyền giáo của Giáo Hội, không một giáo dân nào trong thời đại ngày nay nói rằng: truyền giáo là bổn phận của các linh mục và của các tu sĩ nam nữ nữa, nhưng đa số giáo dân đều hiểu rằng, mình cũng có bổn phận rao giảng Lời Chúa cho mọi người và sống Tin Mừng giữa tha nhân.

Đức Chúa Giê-su sai bảy mươi hai môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng Nước Trời, có nghĩa là ngoài mười hai vị tông đồ ra, Ngài còn chọn thêm cho mình những môn đệ khác để cùng với các tông đồ rao giảng về nước Thiên Chúa. Bảy mươi hai môn đệ này đại diện cho các cộng đoàn dân Thiên Chúa trên khắp thế giới, mà mỗi Ki-tô hữu là những thợ gặt trong thế giới hiện đại hôm nay.

Bạn thân mến,
Tuy không chuyên nghiệp như các linh mục và các tu sĩ nam nữ, nhưng đã là bổn phận thì phải tìm cách để chu toàn, do đó mà chúng ta –người Ki-tô hữu- trước hết phải sống đạo tốt lành, biết noi gương phục vụ và biết cộng tác với cha sở của mình trong việc xây dựng giáo xứ ngày càng tốt đẹp hơn.

Chỉ có những ai biết khiêm tốn đón nhận sứ mạng mà không chút kêu ca hay tự mãn, thì mới có thể trở thành thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo.

Có những người Ki-tô hữu thao thức tìm cho mình một hướng đi như các linh mục và tu sĩ nam nữ, gọi nôm na là linh đạo giáo dân, một ý tưởng rất tốt, nhưng linh đạo giáo dân là gì nếu không phải là sống đạo giữa trần thế dựa trên Lời Chúa, linh đạo giáo dân trước hết chính là chu toàn bổn phận của mình trong yêu thương, và khi đã làm tốt việc đó, thì đã trở thành những thợ gặt nhiệt thành trên cánh đồng truyền giáo trong thế giới hôm nay rồi vậy.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
------------
http://jmtaiby.blogspot.com
http://www.vietcatholic.net/nhantai
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
 
Mỗi ngày một câu danh ngôn của các thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
04:54 06/07/2013
N2T

11. Thánh Ngôn của Thiên Chúa mời gọi con sau khi nghe xong thì theo đó mà thực hành, chứ không phải kêu con đi giải thích những chỗ tối nghĩa. Mặc dù trong Thánh Kinh có những chỗ mà chúng ta không hiểu rõ ràng, nhưng cũng có những chỗ không rõ ràng đợi chúng ta đi thực hành.

(Hiền sĩ Becky Hitchcock)
------------
http://jmtaiby.blogspot.com
http://www.vietcatholic.net/nhantai
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
 
Mỗi tuần một “Chuyện Rất Ngắn”
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
04:59 06/07/2013
RỬA CHÂN
Mùa mưa, đường đi lầy lội, cứ mỗi lần thấy các em thiếu nhi và các cụ già đi lễ là xách dép đến nhà thờ rồi mới mang vào chân lấm bùn để dự lễ. Cha sở thấy xót trong lòng, ngài âm thầm kêu thợ ống nước đến bắt hai cái vòi nước máy hai bên hông nhà thờ để họ rửa chân...
----------
http://jmtaiby.blogspot.com
http://www.vietcatholic.net/nhantai
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
 
Chúa Nhật 14 : Sai từng hai người một
Lm Anphong Nguyễn Công Minh, ofm
11:20 06/07/2013
CN 14-CTN: Sai từng hai người một.

Đề tài mà anh chị em sắp nghe hôm nay ít linh mục (triều) nào giảng. Bằng chứng là rảo qua gần ba chục bài giảng khác nhau cho ngày Chúa Nhật 14C này do các linh mục đó soạn, mà không thấy bài nào đả động tới đề tài sắp nói đây. Lý do cũng dễ hiểu. Nhưng trước hết hãy nói đề tài đó là đề tài gì đã.

Hôm nay bài Tin Mừng nói về việc Chúa Giêsu chỉ định 72 môn đệ và sai các ông đi từng hai người một. Sai đi từng hai người một, đó là đề tài hôm nay. Chúa có ý gì khi sai từng hai người một ?

1. Để hỗ trợ

Chắc chắn là để hỗ trợ (nhau). Chị ngã em nâng. Nếu đi một mình thì khi gặp khó khăn -chẳng hạn khi bị người đời từ chối không tiếp- các ông sẽ không biết bàn hỏi với ai, không được ai khích lệ ủi an, nên sẽ dễ nản lòng bỏ cuộc. Hơn nữa hôm nay Chúa còn nói rõ, Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa sói rừng, nên cần có nhau chống đỡ kẻ dữ là điều hiển nhiên.

Trong Bộ Giáo Luật mới, có một hình thức coi xứ mà trước đó đã manh nha một vài nơi, đó là coi xứ tập thể. Nhiều cha sở thay vì ở một mình tại xứ, thì cùng với các cha xứ khác, ở chung một nơi, rồi toả đi các xứ. Về ăn chung, nghỉ đêm cùng một nhà. Có thời gian nâng đỡ trò chuyện hỏi han nhau. Việt-Nam chưa thấy, nhưng nhà dòng thì có nhiều.

Nhưng cho dẫu được sai đi một mình, thì đâu phải một mình mình đi, mà có Chúa ở cùng. Có Chúa ở cùng nào ta sợ chi. Côn trượng Ngài làm ta an lòng (x. Tv 22). Cho nên Chúa sai từng hai người một để nâng đỡ nhau chưa hẳn là lý mạnh. Lý mạnh là: Cần hai người để làm chứng.

2. Để làm chứng

Có hai điều cần làm chứng.

1) làm chứng cho sự thật. Trong Luật Mô-sê mà Chúa Giêsu có lần nhắc tới, nói rằng: chứng của hai người là chứng thực… Cho dẫu là chứng gian, nhưng hai người cùng làm chứng như nhau thì người ta tin là thật. Câu chuyện bà Suzanna bị hai ông già dê, tuổi mùi, ước muốn phạm tội với bà mà không được bà đáp trả, nên đã cáo gian bà phạm tội với một chàng trai nào đó, mạnh khoẻ chạy nhanh quá nên hai ông già không chụp bắt được chàng, là một ví dụ về chứng hai người thì hiệu quả đến mức nào. Chỉ cần hai người tố cáo y một tội là bà Suzanna bị đưa đi ném đá chết ngay. Cũng may mà cậu bé Daniel được Chúa soi sáng để giải oan cho bà Suzanna bằng một câu hỏi, hỏi riêng từng ông: bà Suzanna phạm tội dưới gốc cây nào, thì, ông già dê trả lời dưới gốc cây chò, ông lão mùi trả lời dưới gốc cây tùng. Thế là chỉ còn có một chứng. Một chứng cây tùng, một chứng cây chò. Nên không đủ 2 chứng. Nên cũng lộ ra là chứng gian luôn.

Hai người đi rao giảng, cùng nói về một điểm, cùng kêu gọi sám hối, thì người ta tin là cần phải sám hối thật, hơn là chỉ một tiếng kêu, gọi mời hoán cải.

Ngày kia, thánh Phanxicô Assisi nói với một anh em trong dòng: “Nào chúng ta cùng đi phố và giảng đạo”. Hai người ra đi, hết con đường trước mặt, quẹo sang con đường bên phải, rẽ phải con đường bên trái, rồi ung dung đi con đường khác trở về nhà dòng. Thầy dòng thắc mắc hỏi: “Con nghe nói là mình đi phố và giảng đạo cơ mà!” Thánh Phanxicô đáp: “Chúng ta đã giảng đạo rồi đó! Khi chúng ta đi đường. Mọi người nhìn ta, thấy phong cách của ta, nghĩ về đời sống của ta và rồi họ sẽ thắc mắc về nguồn sống nơi linh hồn của họ. Như thế chẳng phải là ta đã giảng đạo cho họ rồi sao?”

Giá như Phanxicô chỉ đi có một mình. Làm sao làm chứng mạnh mẽ được như đi hai người, ăn mặc giống nhau, thái độ giống nhau, mắt nhìn về một hướng, để kêu gọi người ta hoán cải.

Cần có ít là hai người để làm chứng cho sự thật. Nhưng đó có lẽ cũng chưa phải là lý mạnh lắm để Chúa Giêsu sai từng hai người một. Lý mạnh để Chúa sai đi từng hai người một là: làm chứng cho yêu thương.

2) làm chứng cho yêu thương. Cần ít là hai người ngang nhau thì mới diễn tả yêu thương được chứ. Có cấp bậc chỉ là thương, xót thương. Ý thức được điều đó, nên các Đức Giám Mục không cử các cha phó xứ, mà chỉ gửi bài sai các cha phụ tá. Bởi vì cũng có cả ngàn lẻ một chuyện giữa cha chính và cha phó. Còn giữa cha sở và linh mục phụ tá, thì nằm ở hai cấp độ xa nhau, nên ít xảy ra chuyện này chuyện kia hơn. Cha phó là gần ngang với cha chánh. Mà hai cha này, nơi nào chẳng may không yêu thương nhau thì càng phản chứng hơn là thà chỉ có một mình cha xứ. Đó cũng là lý lẽ mà các cha triều dọn bài giảng không thấy khai thác đề tài sai đi từng hai người một. Linh mục dòng thì nói được, vì luôn có cộng đoàn là những anh em ngang hàng hỗ trợ, chẳng khác gì sai đi từng hai người một. Sai đi từng hai người một là để làm chứng cho yêu thương. Người không cùng máu mủ ruột thịt nhưng yêu thương nhau như thế đó.

Khi các nhà truyền giáo đến Việt-Nam giảng đạo và có người theo. Các người không theo, nhìn những người theo Đạo, xem đặt tên cho họ là đạo gì, vì lúc đó chưa có chữ Kitô, chưa có tiếng Thiên Chúa như sau này, thì … quả là điều tốt lành cho đạo ta: những người không theo đạo gọi những người theo đạo là : họ theo đạo yêu thương, vì thấy họ yêu thương nhau dường nào (ví như cộng đoàn tiên khởi mà Luca mô tả trong sách Công Vụ). Đây là chi tiết chúng ta biết được nhờ nhà thừa sai Gaspar d’Amaral gửi báo cáo về cho bề trên của mình ở Bồ Đào Nha.

Có một giám mục đến thêm sức cho một xứ đạo. Trước khi thêm sức, ngài hỏi vài câu giáo lý xem trình độ tới đâu. Ngài hỏi: cái gì là dấu hiệu của đạo chúng ta. Không cánh tay nào giơ lên. Ngài hỏi lại cộng với gợi ý như ghi dấu thánh giá trên mình. Chợt một cánh tay giơ lên, và nói: yêu thương. Đức Cha bịp miệng mình kịp trước khi phát ra tiếng wrong: sai. Mà đâu có sai. Quá đúng.

Chúa Giêsu nói người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ thầy: là các con yêu nhau, chứ đâu phải là các con vác thánh giá, là các con nhăn mặt lại chịu khổ đau. Này ta ban điều răn mới, điều răn của riêng ta, là yêu thương, chứ không phải đau khổ.

Sai đi từng hai người một là để làm chứng cho sự thật và nhất là làm chứng cho yêu thương.

Chúng ta hầu hết sống trong gia đình. Một gia đình chứng tá là một gia đình mà chồng và vợ, hai người bình đẳng yêu thương nhau, chứ không phải chồng chúa thương xót vợ tôi, hay vợ là trời thương hại chồng là đất. Yêu chứ không chỉ là thương. Như thế mới xứng danh là gia đình Công Giáo, mà cốt tuỷ của đạo là yêu thương và Chúa sai đi từng hai người một cũng là để làm chứng cho yêu thương.

“Kìa họ yêu thương nhau biết là chừng nào.” Đó là lời giảng hùng hồn nhất. Tại nhà thờ các linh mục thương yêu nhau, (một linh mục thì khó làm chứng được điều này), tại nhà mình cha mẹ yêu thương nhau, thế là Chúa đã sai đi từng hai người một.

Lm Anphong Nguyễn Công Minh, ofm
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tóm lược Thông Điệp Ánh Sáng Đức Tin
Vũ Văn An
06:20 06/07/2013
Thứ Sáu, ngày 5 tháng 7, Tòa Thánh đã công bố Thông Điệp đầu tiên của Đức Phanxicô, tựa là Ánh Sáng Đức Tin (Lumen Fidei). Theo lời Đức Phanxicô, đây là công trình của “bốn bàn tay” và công lớn nhất là của Đức Bênêđíctô XVI, người đã quyết định viết thông điệp này và đã gần hoàn tất nó khi tuyên bố từ nhiệm. Ngoài phần nhập đề và kết luận, Thông Điệp gồm 4 phần. Sau đây là bản tóm lược do Tòa Thánh công bố cùng ngày.

Lumen fidei, Ánh Sáng Đức Tin (ASĐT) là thông điệp đầu tiên được Đức GH Panxicô ký ban hành. Được chia thành bốn chương, cộng thêm phần nhập đề và phần kết luận, Đức Giáo Hoàng giải thích rằng Thông Điệp này bổ túc các thông điệp về đức ái và đức cậy của Đức Bênêđíctô XVI, và tiếp nối “công trình tốt đẹp” của Đức GH Hưu Trí, người đã “gần như hoàn tất” Thông Điệp về đức tin. Nay, Đức Thánh Cha góp “thêm phần đóng góp” của ngài vào “dự thảo đầu tiên” này.

Phần nhập đề của ASĐT (các số 1-7) minh họa các động lực nằm ở nền tảng của văn kiện: trước nhất, nó nhắc lại các đặc điểm nơi ánh sáng đặc trưng của đức tin, một ánh sáng có khả năng chiếu rọi toàn bộ cuộc hiện sinh của con người, giúp con người phân biệt được thiện ác, nhất là trong thời hiện đại này khi niềm tin chống lại việc tìm hiểu và đức tin bị coi là ảo tưởng, một bước nhẩy vào khoảng không vốn cản trở tự do của con người. Thứ hai, nhân Năm Đức Tin này, năm kỷ niệm Công Đồng Vatican II được 50 năm, một “Công Đồng của đức tin”, ASĐT tìm cách tăng cường việc nhận thức chiều rộng của chân trời được đức tin mở ra, ngõ hầu nó được tuyên xưng một cách hợp nhất và toàn vẹn. Thực vậy, đức tin không phải là một điều kiện được coi là đương nhiên, đúng hơn nó là một ơn phúc do Chúa ban, mà ta phải nuôi dưỡng và tăng cường. Đức Giáo Hoàng viết rằng “Ai tin, sẽ thấy” vì ánh sáng đức tin xuất phát từ Thiên Chúa và vì nó có khả năng chiếu rọi mọi khía cạnh trong cuộc hiện sinh của con người, nên nó diễn tiến không những từ quá khứ, từ ký ức về cuộc đời Chúa Giêsu, mà còn từ tương lai khi nó mở ra nhiều chân trời rộng lớn.

Chương Một (các số 8-22): Chúng ta đã tin vào tình yêu (1Ga 4:16). Trong chương này, khi nhắc lại khuôn mạo Ápraham trong Thánh Kinh, đức tin được giải thích là việc “lắng nghe” lời Thiên Chúa, là “lời mời gọi” ra khỏi cái bản ngã cô lập để mở lòng mình ra đón nhận cuộc đời mới, và là “lời hứa hẹn” tương lai làm khả hữu tính liên tục trong cuộc hành trình qua thời gian, gắn liền với hy vọng của ta. Đức tin cũng có âm hưởng “tình phụ tử”, vì Thiên Chúa, Đấng mời gọi ta, không phải là người xa lạ, nhưng là Thiên Chúa Cha, là nguồn suối sự tốt lành vốn nằm ở cội nguồn mọi sự và nâng đỡ mọi sự. Trong lịch sử Israel, đức tin chống việc thờ ngẫu thần, là việc thờ trong đó con người bị tan vỡ trong cái đa phức của thèm muốn và “lịch sử đời họ tan thành man vàn những khoảnh khắc không liên hệ gì với nhau”, khiến họ không còn thì giờ để chờ mong việc nên trọn của lời hứa. Trái lại, đức tin là tín thác vào tình yêu thương xót của Thiên Chúa, là tình yêu luôn luôn chào đón và tha thứ, và là tình yêu làm thẳng “mọi con đường khúc khuỷu của lịch sử ta”; nó là quyết tâm để mình được biến đổi như mới nhờ “ơn phúc nhưng không của Thiên Chúa, một ơn phúc đòi ta phải khiêm nhường và can đảm để tín thác và tin tưởng; nó giúp ta khả năng nhìn ra con đường sáng dẫn tới việc gặp gỡ Thiên Chúa và nhân loại, cũng như lịch sử cứu rỗi” (số 14). Và ở đây, ta thấy “sự nghịch lý” của đức tin: luôn luôn hướng về Chúa sẽ đem lại cho nhân loại sự ổn định, giải thoát ta khỏi các ngẫu thần.

Sau đó, ASĐT hướng ta về khuôn mạo Chúa Giêsu, Đấng Trung Gian từng mở cho ta thấy sự thật lớn hơn chính ta, Đấng biểu lộ tình yêu Thiên Chúa vốn là nền tảng của đức tin: “nhờ chiêm niệm cái chết của Chúa Giêsu… đức tin sẽ lớn mạnh hơn” vì trong cái chết này, Người mạc khải tình yêu muôn đời bền vững của Người cho nhân loại. Sự sống lại của Người khiến Chúa Kitô trở thành “chứng nhân đáng tín thác”, “đáng được tin”, qua Người, Thiên Chúa thực sự hành động suốt dòng lịch sử, xác định ra số phận sau cùng của lịch sử này. Nhưng có một “khía cạnh quyết định” trong đức tin vào Chúa Giêsu: “sự tham dự vào cách nhìn của Người”. Thực thế, đức tin không những nhìn vào Chúa Giêsu mà còn nhìn từ điểm nhìn (quan điểm) của Người nữa, nghĩa là bằng con mắt của Người. Đức GH dùng một loại suy để giải thích rằng, trong cuộc sống hàng ngày, ta đặt lòng tin vào “người khác biết nhiều hơn ta”, như kiến trúc sư, dược sĩ, luật sư, thế nào, thì trong đức tin, ta cũng cần một ai đó đáng tin cậy và hiểu thấu đáo “nơi Thiên Chúa quan tâm” như thế, và Chúa Giêsu chính là “người làm ta biết Thiên Chúa”. Do đó, ta tin Chúa Giêsu khi ta chấp nhận lời Người, và ta tin vào Chúa Giêsu khi ta chào đón Người vào đời ta và phó thác bản thân ta cho Người. Thực vậy, việc nhập thể của Người bảo đảm rằng đức tin sẽ không tách ta khỏi thực tại, đúng hơn, nó giúp ta nắm được ý nghĩa sâu sắc nhất của thực tại này. Nhờ đức tin, con người tự cứu được mình, khi họ mở lòng mình ra đón nhận Tình Yêu vốn đi trước họ và biến đổi họ từ bên trong. Và đây là hành động đích thực của Chúa Thánh Thần: “Kitô hữu có thể nhìn bằng con mắt của Chúa Giêsu và chia sẻ tâm trí của Người, thiên hướng con thảo của Người, vì họ chia sẻ tình yêu của Người, vốn là Thần Khí của Người” (số 21). Không có sự hiện diện của Thần Khí, người ta không thể tuyên xưng được Chúa. Bởi thế, “đời sống tín hữu trở nên đời sống Giáo Hội” vì đức tin được tuyên xưng trong nhiệm thể Chúa Kitô, vốn là “sự hiệp thông cụ thể của các tín hữu”. Các Kitô hữu là “một” nhưng không đánh mất cá tính riêng của họ và khi phục vụ người khác, họ bước vào sự phục vụ chính mình. Như thế, “đức tin không phải là việc tư riêng, một ý niệm hoàn toàn cá nhân chủ nghĩa hay một ý kiến bản thân”, đúng hơn, “nó phát xuất từ việc nghe, và nhằm tìm cách phát biểu thành lời và được công bố”.

Chương Hai (các số 23-36): Không tin, các ngươi sẽ không hiểu (Is 7:9). Đức GH cho thấy mối liên kết chặt chẽ giữa đức tin và sự thật, sự thật đáng tin cậy của Thiên Chúa, sự hiện diện trung tín của Người suốt trong lịch sử. Đức GH viết rằng: “đức tin mà không có sự thật là đức tin không cứu vớt”; “nó vẫn chỉ là một câu truyện đẹp, một dự phóng cho lòng khát vọng hạnh phúc sâu xa”. Và ngày nay, vì “cuộc khủng hoảng sự thật của thời ta”, ta càng cần nhớ lại mối liên kết này hơn bao giờ hết, vì nền văn hóa hiện nay có khuynh hướng chỉ chịu chấp nhận sự thật của kỹ thuật mà thôi, chỉ chấp nhận điều con người có thể xây dựng và đo lường bằng khoa học, một sự thật “làm việc”, hay đúng hơn, những sự thật riêng lẻ chỉ có giá trị đối với cá nhân, chứ không phục vụ ích lợi chung. Ngày nay, ta hoài nghi “chính Sự Thật, tức sự thật có thể giải thích trọn bộ cuộc sống ta như những cá thể và như trong xã hội” vì nó bị liên kết một cách lầm lẫn với những sự thật được các hình thức toàn trị của thế kỷ 20 chủ trương. Tuy nhiên, niềm hoài nghi ấy dẫn ta tới tình trạng “mất hết trí nhớ trong thế giới hiện nay”, một mất mát làm ta quên cả vấn đề chân lý này, quên cả nguồn cội mọi sự, tức vấn đề về Thiên Chúa, chỉ có lợi cho chủ nghĩa duy tương đối và rất sợ chủ nghĩa cuồng tín. ASĐT, sau đó, nhấn mạnh tới mối liên kết giữa đức tin và tình yêu, được hiểu không phải là “một xúc cảm phù du”, mà là tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa có sức biến đổi ta từ bên trong và ban cho ta con mắt mới để ta nhìn thấy thực tại. Do đó, nếu đức tin được liên kết với chân lý và tình yêu, thì “tình yêu và chân lý không thể tách rời nhau”, vì chỉ có tình yêu đích thực mới đứng vững với thử thách của thời gian và trở nên nguồn gốc của nhận thức. Và vì nhận thức của đức tin phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa, nên “chân lý và trung tín đi đôi với nhau”. Chân lý biểu lộ đức tin là chân lý đặt tâm điểm nơi cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô nhập thể, Đấng, khi đến với ta, đã đánh động ta và ban ơn thánh của Người cho ta, để biến đổi tâm hồn ta.

Đến đây, Đức GH bắt đầu suy niệm sâu rộng về “cuộc đối thoại giữa đức tin và lý trí”, về chân lý trong thế giới ngày nay, nơi nó thường bị rút gọn thành “tính chân chính chủ quan”, như thứ chân lý thông thường gây sợ hãi, và đôi lúc bị đồng hóa với các đòi hỏi không khoan nhượng của chủ nghĩa toàn trị. Thay vào đó, nếu chân lý là chân lý của tình yêu Thiên Chúa, thì nó không bị áp đặt một cách đầy bạo lực và không nghiền nát cá nhân. Bởi thế, đức tin không phải là không khoan nhượng và tín hữu không phải là người ngạo mạn. Trái lại, đức tin làm tín hữu ra khiêm nhường và dẫn tới việc chung sống với người khác và kính trọng họ. Bởi đó, đức tin dẫn tới đối thoại trong mọi lãnh vực: trong lãnh vực khoa học, vì nó làm sống lại ý thức phê phán và mở rộng các chân trời của lý trí, mời gọi ta chiêm ngắm Tạo Dựng một cách thán phục; trong lãnh vực liên tôn, trong đó, Kitô Giáo hiến phần đóng góp của mình; trong cuộc đối thoại với những người vô tín ngưỡng, là những người không ngừng tìm kiếm, luôn “cố gắng hành động như thể Thiên Chúa có thực” vì “Thiên Chúa là ánh sáng và có thể tìm thấy bởi những ai tìm kiếm Người bằng một trái tim thành thực”. Đức GH nhấn mạnh rằng “Bất cứ ai khởi đầu con đường làm điều thiện cho người khác thực sự đã tiến lại gần Thiên Chúa”. Cuối cùng, ASĐT nói tới thần học và xác nhận rằng nó không thể có được nếu không có đức tin, vì Thiên Chúa không phải chỉ là
“đối tượng” mà đúng hơn Người chính là Chủ Thể tự làm cho mình được biết đến. Thần học là tham dự vào sự hiểu biết mà Thiên Chúa vốn có về chính Người; thành thử, thần học phải nhằm phục vụ đức tin Kitô Giáo và Huấn Quyền Giáo Hội không phải là một giới hạn đối với nền tự do của thần học, nhưng đúng hơn là một trong các yếu tố tạo thành ra thần học vì nó bảo đảm cho cuộc tiếp xúc của ta với nguyên cội là Lời Chúa Kitô.

Chương Ba (các số 37- 49): Tôi trao cho anh chị em điều chính tôi đã tiếp nhận (1 Cor 15:3). Chương này tập chú hoàn toàn vào sự quan trọng của phúc âm hóa: Đức GH viết rằng ai đã mở lòng mình ra đón nhận tình yêu của Thiên Chúa, thì không thể giữ hồng ân này cho riêng mình. Ánh sáng của Chúa Giêsu rạng chiếu trên khuôn mặt Kitô hữu và nhờ cách này, nhờ giao tiếp, được tràn qua, được chuyền đi như ngọn lửa đốt từ một người khác, chuyền từ thế hệ này qua thế hệ nó, trong một dây chuyền liên tục các chứng nhân của đức tin. Điều này dẫn tới mối liên kết giữa đức tin và ký ức, vì tình yêu Thiên Chúa hợp nhất mọi thời gian, biến chúng ta thành người đương thời của Chúa Kitô. Mặt khác, ta “không thể tự mình tin được” vì đức tin không phải là “một quyết định cá nhân”, đúng hơn, nó mở “tôi” ra cái “chúng tôi” và luôn luôn diễn biến “bên trong một cộng đoàn Giáo Hội”. Bởi thế, “người tin không bao giờ đơn độc cả”, vì họ thấy rằng không gian bản ngã họ đã mở rộng và sản sinh ra nhiều liên hệ mới làm đời họ ra phong phú.

Tuy nhiên, có “những phương thế đặc biệt” nhờ thế đức tin được truyền đi: các Bí Tích, nhờ đó, “ký ức nhập thể” được thông truyền. Trước nhất, Đức GH nhắc đến phép rửa, của cả trẻ em lẫn của người lớn, dưới hình thức đoàn dự tòng. Điều này nhắc ta nhớ rằng đức tin không phải là việc của các cá nhân cô lập, một hành vi có thể thực hiện một cách đơn độc, thay vào đó, nó phải được tiếp nhận trong hiệp thông Giáo Hội. ASĐT giải thích rằng “Không ai tự rửa cho chính mình”. Mặt khác, vì em bé được rửa tội không thể tự mình tuyên xưng đức tin nhưng phải nhờ sự trợ giúp của cha mẹ và người đỡ đầu, nên “sự hợp tác giữa Giáo Hội và gia đình” rất quan trọng. Thứ hai, Thông Điệp nhắc đến Phép Thánh Thể, “của nuôi quí giá cho đức tin”, một “hành vi tưởng niệm, một việc làm cho mầu nhiệm hiện diện”, một việc “dẫn từ thế giới hữu hình qua thế giới vô hình”, dạy ta biết cảm nghiệm chiều sâu của thực tại. Sau đó, Đức GH đề cập tới việc tuyên xưng đức tin, tức Kinh Tin Kính, trong đó, tín hữu không những tuyên xưng đức tin mà còn can dự vào chân lý được mình tuyên xưng; tới việc cầu nguyện, tức Kinh Lạy Cha, nhờ đó, Kitô hữu học cách biết nhìn bằng con mắt Chúa Kitô; Mười Giới răn, được hiểu không phải là “một loạt các lệnh truyền tiêu cực”, mà đúng hơn là “những hướng dẫn cụ thể” để ta bước vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa, “để được lòng xót thương của Người bao bọc”, là “đường biết ơn” dẫn tới sự hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa. Cuối cùng, Đức GH nhấn mạnh tới việc chỉ có một đức tin vì “tính đơn nhất của Thiên Chúa, Đấng được ta biết và tuyên xưng”, vì đức tin này dẫn ta tới một Chúa duy nhất, Đấng ban cho ta “một ngắm nhìn chung” và vì nó “được chia sẻ bởi toàn thể Giáo Hội, vốn là một thân thể và một Thần Khí”. Cho nên, vì chỉ có một đức tin, ta phải tuyên xưng nó trong tính tinh ròng và toàn vẹn của nó: “tính đơn nhất của đức tin là tính đơn nhất của Giáo Hội”; trừ bớt điều gì đó khỏi đức tin là trừ bớt điều gì đó khỏi tính chân thực của hiệp thông. Mặt khác, vì tính đơn nhất của đức tin là tính đơn nhất của một cơ thể sống động, nó có khả năng thẩm thấu mọi điều nó gặp gỡ, tự chứng tỏ mình là phổ quát, Công Giáo, soi sáng và dẫn toàn bộ vũ trụ và toàn bộ lịch sử tới biểu thức tươi đẹp nhất của chúng. Tính đơn nhất này được sự kế tục tông truyền bảo đảm.

Chương Bốn (các số 50-60): Thiên Chúa chuẩn bị cho họ một kinh thành (Dt 11:16). Chương này giải thích sự nối kết giữa đức tin và thiện ích chung, dẫn tới việc tạo ra môi trường để con người nam nữ sống với người khác. Đức tin, vì phát sinh từ tình yêu của Thiên Chúa, nên đã tăng cường các dây liên kết của nhân loại và đặt mình vào việc phục vụ công lý, nhân quyền và hòa bình. Đó là lý do tại sao nó không tách mình ra khỏi thế giới, trái lại đã cột mình vào các cam kết chân thực của con người hiện đại. Ngược lại, nếu không có tình yêu của Thiên Chúa, nơi ta có thể đặt niềm tín thác của ta trên đó, các dây liên kết giữa người với người sẽ chỉ dựa vào thực dụng, vào quyền lợi và sợ sệt. Thay vào đó, đức tin nắm được nền tảng sâu xa nhất của các liên hệ nhân bản, đích điểm dứt khoát của chúng trong Thiên Chúa, và đặt chúng phục vụ thiện ích chung. Đức tin “dành cho tất cả, nó là thiện ích chung”; mục đích của nó không phải chỉ là xây dựng đời sau mà còn giúp xây dựng các xã hội của ta ngõ hầu chúng cùng nhau hướng về một tương lai đầy hy vọng.

Sau đó, Thông Điệp xem sét các lãnh vực được đức tin soi sáng: trước nhất và trên hết, là gia đình xây dựng trên hôn nhân, hiểu như sự kết hợp bền vững giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Việc kết hợp này phát sinh từ việc thừa nhận và chấp nhận thiện ích của việc dị biệt giới tính, và dựa vào tình yêu trong Chúa Kitô, hứa hẹn “một tình yêu mãi mãi” và thừa nhận tình yêu như người sáng tạo dẫn tới việc sinh sản con cái. Rồi tuổi trẻ; ở đây, Đức GH nhắc đến Ngày Giới Trẻ Thế Giới, trong đó, người trẻ biểu lộ “niềm vui đức tin” và cam kết sống đức tin một cách vững chãi và đại lượng của họ. Đức GH viết: “Người trẻ muốn sống cuộc sống đầy đủ nhất”. “Gặp gỡ Chúa Kitô… mở rộng các chân trời hiện sinh, đem lại cho nó niềm hy vọng vững chắc không làm ta thất vọng. Đức tin không phải là chỗ trú chân của những tâm hồn nhút nhát, mà là một điều thăng tiến đời ta”. Và rồi, trong mọi liên hệ xã hội, nhờ làm ta trở nên con cái Thiên Chúa, Đức Tin quả đem lại ý nghĩa mới mẻ cho tình anh em đại đồng, một tình anh em không hẳn chỉ là bình đẳng, mà đúng hơn còn là cảm nghiệm chung về tình phụ tử của Thiên Chúa, sự thấu hiểu phẩm giá độc đáo của mỗi con người. Một lãnh vực khác là lãnh vực thiên nhiên: đức tin giúp ta tôn trọng nó, “tìm ra các mô thức phát triển không chỉ dựa vào thực dụng và lợi nhuận, mà còn coi tạo dựng như một hồng ân”. Nó dạy ta biết cách tìm ra các hình thức cai trị hợp công lý, trong đó, quyền bính phát sinh từ Thiên Chúa và nhằm phục vụ thiện ích chung; nó hiến cho ta khả thể tha thứ, dẫn ta tới việc vượt thắng mọi tranh chấp. Đức GH viết rằng “Khi đức tin yếu đi, các nền tảng của nhân loại cũng có nguy cơ bị yếu đi”, và nếu ta loại bỏ đức tin vào Thiên Chúa khỏi các đô thị của ta, ta sẽ đánh mất niềm tin tưởng lẫn nhau và chỉ còn nhờ sợ sệt mới có thể cấu kết với nhau. Cho nên, ta không nên xấu hổ khi tuyên xưng Thiên Chúa một cách công khai, vì đức tin chiếu soi đời sống xã hội. Một lãnh vực khác nữa được đức tin soi sáng là lãnh vực chết và đau khổ: các Kitô hữu hiểu rõ đau khổ không thể bị trừ khử hoàn toàn nhưng ta có thể cho nó một ý nghĩa; nó có thể được phó dâng cho bàn tay Thiên Chúa, Đấng không bao giờ bỏ rơi ta, và do đó, trở thành “giây phút phát triển trong Đức Tin”. Với những người đau khổ, Thiên Chúa không cho biết lý do để giải thích mọi sự, mà đúng hơn, Người tự ý hiện diện, một hiện diện luôn đồng hành với ta, luôn mở cho ta bậc cửa ánh sáng trong cảnh tối tăm. Theo nghĩa này, đức tin được nối kết với đức cậy, với niềm hy vọng. Ở đây, Đức GH kêu gọi ta: “Ta hãy từ khước đừng để mình bị cướp đi niềm hy vọng, hay để niềm hy vọng của ta lu mờ bởi những câu trả lời và giải pháp dễ dãi chỉ chặn đứng tiến bộ của ta”.

Kết luận (các số 58-60): Phúc thay các con là những người tin (Lc 1:45). Trong phần kết luận ASĐT, Đức GH mời gọi ta nhìn lên Đức Maria, “mẫu mực hoàn hảo” của Đức Tin, Đấng, vì là Mẹ Chúa Giêsu, đã tượng thai “đức tin và niềm vui”. Đức GH dâng lời cầu nguyện lên Đức Mẹ để ngài trợ giúp con người trong đức tin của họ, nhắc ta, các tín hữu, nhớ rằng ta không bao giờ cô đơn và dạy ta biết nhìn bằng cặp mắt của Chúa Giêsu.
 
Người ta bảo linh mục là ai?
Lm. Giuse Vũ Tiến Tặng
11:20 06/07/2013
Thông thường hai Chúa Nhật cuối Tháng Sáu và Chúa Nhật đầu Tháng Bảy là thời điểm mà các giáo phận tại Pháp tổ chức thánh lễ truyền chức linh mục. Thời điểm này tương đối lý tưởng đối với các chủng viện và giáo xứ, vì lúc này năm học và chương trình sinh hoạt của một năm khép lại trong khi kỳ nghỉ hè đầy lý thú lại mở ra trước mắt. Do đó, trước khi đi hè, cộng đoàn Dân Chúa rất phấn khởi nhìn thấy thành quả vun trồng từ bao năm tháng đến nay được hội tụ nơi thánh lễ truyền chức, một niềm vui chung của tất cả thành phần trong Giáo Hội. Do đó đề tài lễ truyền chức linh mục luôn là chủ đề chính trong thời điểm này. Cũng trong khuôn khổ đó, bài viết muốn nhấn mạnh về thiên chức ơn gọi linh mục. Thật không hề ngẫu nhiên, khi Tin Mừng Chúa Nhật XII năm C có đặt câu hỏi về Chúa Giêsu theo cái nhìn của con mắt người đời : « Người ta bảo Thầy là ai ? », thì Tin Mừng Chúa Nhật XIII của tuần tiếp theo lại nói về điều kiện của người muốn đi theo Chúa. Đặc biệt trong khung cảnh ơn gọi linh mục, bài Tin Mừng này cũng có thể đặt ra câu hỏi: « Người ta bảo linh mục là ai ? ».

Trong bầu khí ấy, Chúa Nhật cuối cùng của tháng Sáu 30/06/2013, người viết có tham dự thánh lễ truyền chức linh mục tại nhà thờ chính tòa Thánh Lazarô thuộc giáo phận Autun. Ứng viên của bí tích này gồm một phó tế người Việt và người còn lại là một phó tế người Pháp. Dù bất kỳ là ai, giáo dân, tu sĩ hay linh mục, khi tham dự cử hành bí tích này đều được đánh động bởi tình yêu Thiên Chúa dành cho dân Ngài qua việc tuyển chọn một số người nam để phục vụ Tin Mừng và Giáo Hội. Đặc biệt, quãng đường ơn gọi của hai tân chức hôm nay cùng với Lời Chúa của Chúa Nhật tuần XIII thường niên năm C toát lên căn tính của ơn gọi.

Thiên Chúa gọi ai tùy ý của mình. Đây chính là sáng kiến của Ngài. Thiên Chúa gọi và chọn người mình muốn để giao cho họ một sứ mạng. Ơn gọi hoàn toàn là một màu nhiệm. Vì thế, nó không hề có tính áp đặt, cũng chẳng theo tiêu chuẩn của người đời. Thiên Chúa gọi ai thì Ngài cũng để cho đương sự tự do đáp trả. Chẳng thế mà Tin Mừng trong ngày kể lại chuyện một người đến xin theo Chúa. Ngay lập tức Ngài đã nói về những bấp bênh trên con đường này. Sau đó, Đức Giêsu cũng đã chủ động kêu gọi một số người khác. Những người này chưa sẵn sàng theo Ngài, hoặc việc theo ấy phải thỏa mãn một số yêu sách của họ. Tin Mừng nêu ra một số trường hợp điển hình như quay trở về để giã biệt người thân, hoặc thực thi tình nghĩa hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ là chôn chất cha mẹ mình.

Đi theo Chúa đòi hỏi tính dứt khoát ngay lập tức và vô điều kiện. Đồng thời, việc thi hành sứ vụ của Ngài luôn luôn phải là ưu tiên hàng đầu, vượt lên trên hết mọi công việc khác trong cuộc sống. Nguyên lý của sự lựa chọn luôn đồng nghĩa với từ bỏ một cách dứt khoát cái cũ để sẵn sàng đón nhận cái mới, mà theo cách nói của thánh Phaolô là cần phải chết đi cho con người cũ để mặc lấy con người mới.

Có thể nói, hành trình ơn gọi của hai tân linh mục ngày chịu chức phản ánh rõ niềm xác tín này. Hơn chục năm về trước, nếu như có ai nói là họ sẽ trở thành linh mục thì hoàn toàn sẽ không thể tài nào tin nổi. Làm sao có thể trở thành linh mục đối với một người đã nhận lãnh bí tích rửa tội mà lại có cả một chặng thời gian dài suốt ba mươi năm trời không hề đặt chân đến nhà thờ ? Làm sao có thể trở thành linh mục khi đã có nghề nghiệp ổn định mà nhất là nghề nghiệp ấy lại trong ngành cảnh sát ? Ấy thế mà chỉ cần một lần được đánh động khi đọc một câu thánh vịnh trong Kinh Thánh, cuộc đời của viên cảnh sát này đã lật sang một trang mới. Tất cả những gì thuộc quá khứ được gác sang một bên. Tâm hồn được hoán cải và ngay lập tức có ý muốn sống gắn bó với Giáo Hội trong sứ vụ linh mục. Sau thời gian tu học tại chủng viện và thực tập tại giáo xứ để chuẩn bị cho hành trang của người mục tử, theo như một bài viết trong nhật báo của tỉnh thuộc địa bàn giáo phận này, « người cảnh sát chuyên bắt tội phạm trở thành người mục tử chăm sóc các linh hồn ».

Về phần mình, tân linh mục người Việt không bao giờ có thể nghĩ rằng mình sẽ có được như ngày hôm nay. Hơn một thập niên rời xa quê hương, đất nước và người thân, ban đầu người có lý tưởng tu trì này được đón nhận trong một cộng đoàn dòng tu, nhưng chỉ là để lao động và cầu nguyện, mà không hề tính đến chuyện được đào tạo để trở thành linh mục. Thế rồi cơ duyên cũng đến, thầy được một giáo phận tiếp nhận và gửi đi tu học tại đại chủng viện.

Qua đó, chúng ta mới thấy được cách Chúa gọi và chọn hoàn toàn khác với tiêu chuẩn của con người. Một khi Ngài đã chọn và gọi ai, thì ngay đối với cá nhân đương sự và người đời cũng sẽ không thể nào hiểu được sự màu nhiệm trong cách thức của Thiên Chúa.

Thiên Chúa gọi ai là để trao cho một sứ mạng cần thi hành. Đối với các linh mục, họ được mời gọi đón nhận những lễ vật của dân Thiên Chúa để dâng lên Ngài qua việc thông phần vào chức vụ tư tế của Đức Giêsu, đồng thời cũng qua sứ mệnh này để làm triển nở ân sủng tự trời cao đổ xuống cho dân Chúa qua việc cử hành các bí tích. Do sứ mệnh quan trọng này, các linh mục cũng được mời gọi sống chết cho sứ mệnh thể hiện qua việc rao giảng điều mình tin, và sống điều mình rao giảng.

Theo ý muốn của Đức Kitô, Giáo Hội luôn luôn cần đến vai trò của linh mục để tiếp tục cử hành bí tích Thánh Thể, nhằm hiện tại hóa hy tế xưa Đức Giêsu dâng trên thập giá xuyên suốt từ sự chết đến sự sống lại của Ngài. Mỗi khi linh mục dâng thánh lễ, suối nguồn hồng ân Thiên Chúa được trải rộng cho nhân loại. Chính vì thế, Mẹ Têrêsa thành Calcuta khuyên các linh mục luôn luôn ý thức được vai trò quan trọng này mỗi khi cử hành bí tích Thánh Thể. Đó là dâng thánh lễ với tất cả lòng sốt sắng như « thánh lễ đầu tiên, như thánh lễ cuối cùng, và như một thánh lễ duy nhất ».

Để chu toàn sứ mệnh cao cả này, các linh mục cũng rất cần sự nâng đỡ của cộng đoàn Dân Chúa, và đặc biệt là qua lời cầu nguyện liên lỉ để họ luôn trung thành với thánh chức của mình và luôn luôn trở nên người linh mục như lòng Chúa mong ước.
 
ĐGH Phanxicô khuyên các Linh Mục, Nữ Tu đừng dùng đồ hào nhoáng.
Nguyễn Long Thao
22:18 06/07/2013
ĐGH Phanxicô khuyên các Linh Mục, Nữ Tu đừng dùng đồ hào nhoáng.

VATICAN CITY 6 /7/2013 .- Theo tin của thông tấn xã Reuters, hôm thứ Bảy 6 tháng 7 năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ngỏ lời với các Linh Mục, Nữ tu đang học ở Roma rằng Ngài đau lòng thấy các linh mục, nữ tu lái xe ô tô hào nhoáng, và Ngài khuyên các vị ấy nên chọn một cái gì đó "khiêm tốn hơn nhiều".

Như là một phần của chiến dịch làm cho Giáo Hội Công Giáo sống khắc khổ để tập trung hơn vào người nghèo, Đức Thánh Cha nói với các linh mục và nữ tu từ khắp nơi trên thế giới đến Roma học rằng điện thoại thông minh mới nhất hoặc những đồ dùng thời trang không phải là con đường đưa tới hạnh phúc.

Đức Thánh Cha nói "Thật đau lòng khi cha nhìn thấy một linh mục hay một nữ tu lái các mẫu xe mới nhất, các con không thể làm điều này được"

Rồi Ngài nói tiếp: ."Một chiếc xe là cần thiết để làm rất nhiều công việc, nhưng xin vui lòng chọn một cái khiêm tốn hơn. Nếu các con thích một chiếc xe hào nhoáng, thì chỉ cần suy nghĩ đến bao nhiêu trẻ em đang chết đói trên thế giới"

Kể từ khi trở thành Giáo Hoàng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chọn lối sống đơn giản, Ngài sống trong một nhà khách Vatican chứ không phải là căn hộ sang trọng dành cho các vị Giáo Hoàng.

Mới đây, Ngài cũng đã không hiện diện trong một buổi hòa nhạc cổ điển được tổ chức trong khuôn viên Tòa Thánh Vatican.

Theo thông tấn xã ANSA của Ý, chiếc xe mà Đức Giáo Hoàng đang dùng để di chuyển tại Vatican là loại xe hiệu Ford Focus. Đây là loại xe bé, rẻ tiền nhất và ít tốn hao xăng nhất do hãng Ford tại Hoa Kỳ chế tạo.

Chính lối sống đơn giản, nghèo khó của Đức Thánh Cha Phanxciô mà giới quan sát tại Vatican bình luận rằng ĐGH Phanxicô đang làm một cuộc cách mạng tại Vatican.
 
Top Stories
Pope's Reform Path: Francis Shakes Up Church Establishment
Hans-Jürgen Schlamp
09:54 06/07/2013
July 6, 2013 - It appears Pope Francis truly wants to change the Catholic Church. He's reforming the Vatican Bank first, but he's also circumventing the old guard wherever he can. The establishment is up in arms.

A cardinal in Rome earns about ?3,000 ($3,888) a month, even less than a pastor in Germany. But a cardinal's life in Rome is a lot more expensive -- with visits to restaurants and shopping at boutiques for the upscale clothing men of the church are expected to wear, not to mention their jewelry and the antiques they display in their apartments. So it's good to have friends who can treat you or otherwise provide support now and then.

Friends are also happy to give a cardinal a hand -- and not just out of religious considerations. A cardinal can be helpful in both political and business terms. So it's not surprising that a symbiotic relationship between parts of the Curia and the upper class around the world has formed -- one that brings together the establishment, luxury and power. It's a nice little tradition that new Pope Francis would like to put an end to. For the Catholic establishment, though, it is nothing less than a catastrophe.

A 'Sick' Church of 'Theological Narcissism'

Even before his enthronement as pope, when he was still a cardinal, Jorge Mario Bergoglio had spoken clearly about this. During his speech to the cardinal conclave, he warned that, "When the church does not emerge from itself to evangalize, it becomes self-referential and therefore becomes sick." He warned of "self-referentiality" and "theological narcissism." He also criticized a "mundane church that lives within itself, of itself and for itself." And it appears the Argentinian pope meant this criticism seriously. In fact, he demonstrates that every day.

Instead of wearing a gold cross, he has one of steel. And he lives in a sparsely furnished apartment in the Santa Marta guest house rather than in the Apostolic Palace. Instead of taking his seat in the Vatican concert hall to listen to classical music, he recently remained at his desk working on the final version of his decree for the church-state's own Institute for Religious Works (IOR) bank. With his signature, he created a powerful special papal commission to review the bank's activities. He also said the new commission must change everything at the Vatican Bank, as it is also known. He said the Vatican certainly needed a bank, but its areas of business should only reach a "certain point."

For decades now, the IOR has been in the headlines for one scandal after the other. At the beginning of the 1980s, it was at the center of one of the darkest crime thrillers in postwar Italian history. The scandal surrounded billions in business with the mafia, and a Vatican banker was hanged from a London bridge by a killer commando.

But the chain of scandals never let up. When, in autumn 2010, fresh suspicions of money laundering to the tune of triple-digit millions emerged, then Pope Benedict XVI promised stricter rules for his financial managers. In fact, though, nothing changed. In the so-called Vatileaks scandal, secret documents that had been smuggled out of the Vatican shed light on bizarre intrigues inside the papal state. Often, the Vatican Bank played a role in those intrigues. Benedict XVI was appalled, but also overwhelmed. He failed to prevail over the powerful cardinals who backed the IOR. His resignation was the logical outcome.

(Source: SPIEGEL)
 
Pope Francis remembers Cardinal Van Thuan
Pope Francis
09:57 06/07/2013
2013-07-06 - Pope Francis received a delegation of officials, family and friends of the Servant of God, Francis Xavier Nguyen Van Thuan, the heroic Vietnamese cardinal who spent thirteen years in prison in his
beloved native land before coming to Rome to head the Pontifical Council for Justice and Peace. The delegation is visiting Rome in the context of the official closure of the diocesan phase of Cardinal Nguyen Van Thuan’s cause for beatification. The Holy Father remembered the Cardinal as a “witness to hope” whose humility and priestly spirit touched countless lives. Below, please find Vatican Radio’s translation of Pope Francis’ remarks.

Venerable Brothers,
Dear Brothers and Sisters,

I'm glad to meet you and give you my cordial welcome. I greet with affection Cardinal Peter Turkson, and thank him for his words. I greet all of you, who have come from many parts of the world on the occasion of the closing of the diocesan phase of the cause of the Servant of God Cardinal Francis Xavier Nguyen Van Thuan.

Dear friends, your joy is my joy! Thanks be to God!

We also thank all those who have engaged in this service which is for the glory of God and His Kingdom: the Procurator of the cause, Dr. Waldery Hilgeman and his co-workers, the Diocesan Tribunal and the competent Office of the Vicariate, the Historical Commission, and the same Pontifical Council for Justice and Peace, where the memory of Cardinal Van Thuan, witness to hope, is still alive, and – more than a memory – is a spiritual presence that continues to bring his blessing.

In effect, there are many people who can attest that they were edified by their encounter with the Servant of God Francis Xavier Nguyen Van Thuan, at different moments of his life. Experience shows that his reputation for holiness has spread precisely through the testimony of so many people who met him and [who] preserve in their heart [the memory of] his gentle smile and the greatness of his soul.

Many came to know him through his writings, simple and profound, which reveal his priestly spirit, closely united to the One who had called him to be a minister of His mercy and His love.

So many people have written to tell of graces [received] and signs attributed to the intercession of the Servant of God Cardinal Van Thuan. We thank the Lord for this venerable brother, son of the East, who ended his earthly journey in the service of the Successor of St. Peter.

We entrust the continuation of this cause to the intercession of the Virgin Mary, along with all other [causes] currently in progress. May Our Lady help us to live more and more in our lives the beauty and joy of communion with Christ.

To all of you and to your loved ones I cordially impart my Blessing.
 
Bênh vực công lý và Giáo Hội
Công lý cho gia đình luật sư Lê Quốc Quân
Hà Minh Thảo
14:39 06/07/2013
CÔNG LÝ CHO GIA ĐÌNH LUẬT SƯ LÊ QUỐC QUÂN

Ngày 27.05.2011, tại Hội trường Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn thuộc Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Sài gòn, Ủy ban Công Lý và Hòa Bình trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ra mắt Ban Điều hành sau khi tổ chức tọa đàm với chủ đề ‘Công Lý và Hòa Bình theo Giáo huấn Xã hội Công Giáo’. Ủy ban là một tổ chức của Hội đồng Giám mục Việt Nam, được thành lập trong Đại hội lần thứ XI tại Sài gòn vào tháng 10/2010, nhằm cổ vũ công lý và hòa bình tại Việt Nam theo đường hướng chung của Giáo Hội Công Giáo Toàn cầu.

Trong diễn văn khai mạc, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục nói: « ‘Hoà bình là một ân huệ cao cả Thiên Chúa ban cho mọi người. Để xây dựng hoà bình từ căn bản Công lý, chúng ta cần phải tùng phục kế hoạch của Thiên Chúa’. Kế hoạch đó thể hiện rõ nét nơi hành động của Đức Giêsu. Suốt quãng đời tại thế, Đức Giêsu đã động lòng trắc ẩn trước những mảnh đời bất hạnh: Ngài được sai đến để ‘loan báo Tin Mừng cho người nghèo yếu, công bố cho ai bị giam cầm biết mình được tha, cho kẻ mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa’ (x. Lc 4,18-19). Vì vậy ‘việc noi gương Chúa Giêsu yêu thương và phục vụ sẽ là nguồn an ủi lớn lao cho mọi người, nhất là những người đang phải chịu nghịch cảnh trong cuộc sống’; và ‘cổ vũ một nền hoà bình và công lý cho xã hội hôm nay, trước hết là mang khuôn mặt yêu thương Chúa Kitô đến với mọi người’».

Sau đó, Luật sư Lê Quốc Quân, thành viên Ban Công Lý và Hòa Bình Giáo phận Vinh, đã thuyết trình về ‘Công lý Và Hòa bình trong bối cảnh xã hội Việt Nam’.

Đáp lời khuyên Đức Thánh Cha Biển Đức XVI khi ban Huấn từ cho Hội đồng Giám mục Việt Nam, nhân dịp Ad Limina, ngày 27.06.2009 : ‘Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em giáo dân phải chứng tỏ rằng là người Công Giáo tốt cũng là người công dân tốt’, Luật sư Lê Quốc Quân luôn cố gắng góp phần xây dựng kinh tế và chính trị Đất Nước cùng hoạt động giáo dân giúp Giáo Hội Công Giáo và góp phần cải thiện trần thế theo Học thuyết xã hội Hội Thánh.

I.- NHỮNG NGƯỜI VÔ TỘI BỊ BẮT TRÁI LUẬT.

Sáng ngày 30.10.2012, khoảng 70 công an các loại đã ập vào nhà riêng anh Lê Đình Quản, một em trai Luật sư Lê Quốc Quân và là giám đốc công ty Trách nhiệm Hữu hạn ‘Thông tin tín nhiệm và Xếp hạng Doanh nghiệp’, tại quận Đống đa, Hà nội đọc lệnh và bắt anh đi với cáo buộc trốn thuế, vi phạm Điều 161 Bộ luật Hình sự.

Chiều ngày 05.12.2012, công an Hà nội đã về tận Nghệ an bắt và giam chị Nguyễn Thị Oanh, em họ anh Quân đang về quê dưỡng thai và chăm sóc người bố bị đau nặng. Chị là cố vấn của anh Lê Đình Quản. Hành động bắt giam người đang mang thai là vi phạm Điều 88 khoản 2 Bộ luật Tố tụng hình sự qui định: « Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, ... »

Sáng ngày 27.12.2012, Luật sư Lê Quốc Quân bị bắt khẩn cấp (?) khi đang trên đường đưa con đi học. Sau đó, một đội công an đưa con anh trở lại gia đình và khám xét nhà, sau khi đọc lệnh khám xét văn phòng và nhà riêng của anh vì liên quan đến tội ‘trốn thuế’ vi phạm Điều 161 Bộ luật Hình sự. Hai tiếng đồng hồ sau, họ ra đi mang theo toàn bộ máy tính, đồ đạc gia đình và một số giấy tờ liên quan. Tuy nhiên, giới quan sát cũng như mọi người thiện chí, khi biết rõ quá trình hoạt động xuất phát từ con tim yêu nước và thương đồng bào của Anh, đều nhận định đây là một sự trả thù của người cộng sản đối với một ‘người Công Giáo tốt và Công dân tốt’. Giới hữu trách sẽ kéo anh Quân ra Tòa án Hà nội để được xét xử dưới sự chủ tọa của thẩm phán Lê Thị Hợp. Ba luật sư Hà Huy Sơn, Trần Thu Nam và Bùi Quang Nghiêm sẽ bảo vệ cho người bị cáo gian. Hy vọng phiên tòa có Công lý ! Công lý được thực thi có nghĩa là anh phải được trả tự do, không phải là tại tòa, mà trước khi phiên tòa xảy ra, thì đúng hơn, cũng như ba lần bắt trước. Hơn nữa, việc ‘trốn thuế’ đã được điều tra bởi các công an chính trị và, kết quả ngược lại, cho thấy nhà nước còn thiếu nợ ông 172 triệu đồng.

II. ANH QUÂN KHẢ MẾN,

Lòng cảm mến chúng tôi dành cho Anh nẩy mầm và lớn dần nơi tâm trí mình từ ngày 25.01.2008, khi anh leo hàng rào Toà Khâm sứ ở Hà nội để mưu cứu môảt bé mang hoa dâng Đức Mẹ Sầu Bi và Anh đã bị công an vây đánh trong buổi cầu nguyện tập thể với sự tham dự của khoảng 100 linh mục và nhiều ngàn tín hữu để yêu cầu nhà nứơc trả lại đất đai chiếm dụng của Giáo Hội.

Tìm hiểu về Anh, chúng tôi được biết sau khi tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ Hà nội, Anh đi dạy tại Đại học Giao thông Vận tải. Sau đó, anh được cấp học bổng sang Hoa kỳ, nhờ anh làm tư vấn cho Ngân hàng Thế giới và Quỹ Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) để theo chương trình nghiên cứu của Tổ chức Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy, NED) tại Washington. Hoàn tất việc nghiên cứu, trở về nước, Anh đã bị bắt giữ hôm 08.03.2007 và giam tại trại của bộ Công an vì vi phạm điều 79 Bộ luật Hình sự ‘tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’. Họ nghi Anh muốn làm luật sư giúp người nghèo và bảo vệ quyền lao động của các công nhân. Nhờ sự can thiệp của Bộ Ngoại giao Hoa kỳ, anh được trở về nhà ngày 13.07.2007.

Ngày 04.04.2011, cũng vì thương người, Anh và Bác sĩ Phạm Hồng Sơn cùng nhiều thân hữu khác, những người muốn đòi Công lý cho đồng bào, đến theo dõi ‘Phiên tòa công khai’ xét xử ông Cù Huy Hà Vũ (tiến sĩ luật bị bắt vì ‘hai bao su xài rồi’) đã bị công an giải tòa vô cớ, sai luật. Nhị vị đã bị bắt và đưa ngay về Công an Quận Hoàn kiếm. Đồng thời, một lệnh khám nhà ngay lập tức được thực hiện trong đêm, bất chấp sự vắng mặt các chủ nhà. Khi đó, vì Anh là Trưởng ban liên lạc Cộng đoàn Doanh nhân-Trí thức Công Giáo và là Ủy viên Ban Công lý-Hòa bình Giáo phận Vinh, nên ngay hôm 04.04.2011, Cộng đoàn Vinh tại Hà nội ra Tuyên cáo phản đối nhà cầm quyền Hà nội đã vi phạm nhân phẩm, quyền tự do cá nhân, đánh đập, bắt giữ người và thu giữ tài sản trái pháp luật và yêu cầu trả tự do lập tức cho những người bị giam trái pháp luật và trả lại các tài sản bị thu giữ. Tối hôm đó, tại đền Thánh Giêrađô Giáo xứ Thái Hà, hơn 200 thành viên Cộng đoàn Vinh đã hiệp thông cầu nguyện cho Công lý và Bình an cho các thành viên (với Anh Paulus Lê Sơn và các sinh viên Vinh khác). Ngày 12.04.2011, Cộng đoàn Doanh nhân-Trí thức Công Giáo Việt Nam đã ra Tuyên cáo về việc Nhà cầm quyền bắt giữ trái pháp luật Anh Quân về tội ‘gây rối trật tự công cộng’ vì nhiều nhân chứng cùng đứng tại chỗ Anh bị bắt đã khẳng định Anh không hề có hành vi gây rối trật tự công cộng hoặc bất cứ hành vi nào khác ngoài thái độ ôn hòa, xử sự đúng với quyền hạn của một công dân theo quy định của pháp luật. Nhiều Thánh Lễ khác cũng được tổ chức tại các giáo xứ trong Giáo phận Vinh.

Bổng nhiên, thật thích thú vui mừng, chúng tôi được nghe tiếng Anh Quân. Hôm đó, ngày 13.04.2011, hai Anh Quân và Sơn đã rời trại giam Hỏa Lò và về đến Giáo xứ Thái hà để chào tín hữu đang dự tĩnh tâm mùa Chay. Cha Bề trên Mátthêu Vũ Khởi Phụng, quý Cha, Thầy và giáo dân đã đón tiếp hai Anh trong vui mừng và xúc động. Hai người vợ yêu quý của các Anh cũng đến góp niềm vui lớn lao chung. Anh Quân chia sẻ rằng khi bị đưa về trại giam chung với các tù hình sự, nhưng trong phòng anh có một biểu tượng hình Thánh Giá và anh lấy làm hạnh phúc. Khi các cán bộ quét vôi lại toàn bộ tường phòng giam, anh đã nhất quyết không cho xóa đi hình ảnh này. Hàng ngày, anh siêng năng đọc kinh cầu nguyện sáng, trưa, chiều tối để Đức Tin trợ giúp anh chiến thắng.

Trong mùa bầu cử Quốc hội khóa 13 năm 2011, vì lòng muốn phục vụ Đất Nước và Dân tộc, Anh đã xung phong ứng cử Đại biểu. Bravo. Làm chính trị chính danh là một hành động Bác ái cao cấp để đem Công lý và Công bình xã hội để phục vụ Hòa Bình, niềm khao khát không nguôi cho bất cứ người Việt Nam nào, sau những năm nội. Sau khi Anh được mọi người cùng làm việc với Anh đồng ý 100%, Anh còn phải được sự duyệt xét bởi ‘Hội nghị cử tri cấp cơ sở’ (cái kiểu ‘đảng cử, dân bầu’ đó mà). Ngày 30.03.2011, chúng đã truất quyền ứng cử để phục vụ đồng bào vì Anh bị an ninh Việt Nam bắt giam 100 ngày từ 19.03.2007. Đúng là Anh gặp phải đám dốt luật hay những cán ‘búa’ cố tình không biết Tòa chưa buộc thì tội chưa thành nhất định. Đây là ‘sản phẩm’ của cái gọi là ‘Mặt trận Tổ quốc’ chỉ muốn dành chức Đại biểu Quốc hội cho những ai không biết làm luật mà chỉ chờ lệnh từ Hành pháp đưa sang.

Ngày 19.08.2012, khoảng 22 giờ 30, Anh Quân đưa Chị Hiền và con đi ăn sinh nhật về. Khi vợ con đã lên trên nhà thì Anh đi ra bãi gửi xe. Gửi xe xong, trên đường quay trở lại nhà, Anh bị hai thanh niên chực sẵn ở đấy, dùng gậy sắt cỡ 80 centimètres đánh nhiều lần liên tiếp vào người. Anh hô hoán thì nhiều đồng bào đi ra và họ bỏ chạy. Ngoài ra, còn người thứ ba chực sẵn ở phía xa. Dĩ nhiên, công an không tìm ra thủ phạm., nếu không chỉ là một vụ ‘dằn mặt’.

Bấy nhiêu sự kiện đó minh chứng hùng hồn việc bắt và đưa Anh ra Tòa chỉ vì muốn Anh vâng lệnh họ Im Đi. Mọi chuyện cứ để nhà nước ‘n’o, anh đừng ‘n’o (ở đây, chữ ‘n’ cần thay bởi ‘l’). Việc buộc tội ‘trốn thuế’ chỉ là một lý do che đậy một vụ án chính trị mà thôi. Anh và gia đình Anh chỉ là những nạn nhân như bao đồng bào khác nơi Thiên đàng cộng sản này. Chúng tôi khâm phục khi được đọc những dòng chữ Anh vừa viết và gởi cho đồng bào: « Để sống đúng Sự Thật và Tin Yêu của Đồng bào, tôi nguyện sẽ bảo vệ Lương Tâm và Lý tưởng của mình trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt trong phiên tòa ‘công khai’ vào ngày 09.07.2013 ».

Đề nghị Anh Quân và chúng ta cùng cầu nguyện, nhờ sự cầu bầu của Thánh cả Giuse, Bổn Mạng Giáo Hội Việt Nam và Bổn Mạng của Anh và Tôi Tớ Chúa Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, cựu Chủ tịch Hội đồng Tòa thánh Công lý và Hòa Bình, xin Thiên Chúa ban cho Anh Quân tràn đầy Hồng Aân Người và Can Đảm vác Thánh giá theo chân Chúa.

{Ngày 05.07.2013, nhân dịp Tổng Giáo phận Rôma kết thúc giai đoạn Giáo phận của Tiền trình phong Chân Phước cho ‘Người Tù 13 Năm Không Bản Án’ Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận (1928-2002), một cán bộ từ nhiệm Phòng Tôn giáo Bộ Công an lúc Đức Cha Thuận ‘học tập’, sau vụ Thiên An Môn, hiện là nhà phê bình văn học, ông Nguyễn Hoàng Đức đã bị công an sân bay Nội Bài, Hà nội chặn lại không cho rời nước, ngày 02.07.2013, để tham dự dịp ‘Bế mạc phần điều tra tại địa phương’ này theo lời mời của Hội đồng Tòa thánh Công lý và Hòa Bình. Ông cho biết Đức Cha bị tù và phải chuyển ra Bắc vì cái tội rất to là cháu của Ngô Đình Diệm và về Sài gòn làm Phó Tổng Giám mục với ý lót ổ để lên Tổng Giám mục.}

III.- KÍNH MẸ ANH QUÂN và CÙNG CHỒNG CHỊ OANH.

Chúng tôi đã đọc Thư Kêu Cứu Khẩn Cấp được lưu truyền bởi VRNs ngày 29.12.2012 của Cụ và Anh. Chúng tôi xin được hiệp thông với những xót xa, phiền muộn và lo lắng mà những thân nhân Anh Quân phải gánh chịu như bao nhiêu gia đình khác của những người bị tù tội vì giúp người khác (Đỗ Thị Minh Hạnh,…) hay vì yêu nước (Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha,…) trong một nước Cộng sản vắng Công lý, Sự thật và Tự do (Tự do chỉ là đặc quyền cho những ai thỏa hiệp với chúng). Không như tại các quốc gia dân chủ khác, phụ huynh được hưởng Hạnh phúc trọn vẹn khi con có hành động tốt. Ở Việt Nam, phụ huynh chỉ được hưởng Diễm phúc thường trong nước mắt. Chúng tôi xin chia buồn với Anh Chị Nguyễn Thị Oanh bị tuột mất đứa con đầu lòng sau mấy tháng giam giữ trái luật. Kẻ sát nhân thì được thoát lưới Công lý.

IV. MỘT ƯỚC MONG TRONG NĂM THÁNH ĐỨC TIN.

Trong những ngày sau khi Luật sư Lê Quốc Quân và Bác sĩ Phạm Hồng Sơn bị bắt giam này 04.04.2011, nhiều Thánh lễ, thắp nến cầu nguyện với hàng ngàn người hiệp thông được cử hành để cầu Bình An cho những người vô tội tù tội vì thương ngưòi bị xử oan trong những phiên tòa phi Công lý từ Giáo xứ Thái hà đã tỏa rộng đến các giáo xứ khác tại các Giáo phận Vinh, Thái bình, Hà nội và đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (Sài gòn). Nhờ thế, người chưa là Kitô hữu có dịp đến để cùng cầu nguyện, tìm hiểu Đức Kitô, chia sẻ những nổi buồn, niềm hy vọng… Bởi thế, chị Vũ thúy Hà, hiền thê Bác sĩ Sơn, đã nói với nữ phóng viên Khánh An (đài Á châu Tự do, RFA) ngày 12.04.2011 : « Trước hết, tôi phải nói là tôi có được đến dự một buổi cầu nguyện vào tối hôm thứ Sáu ngày 8/4 vừa qua, tôi cảm thấy rất ấm lòng với tình cảm, sự chia sẻ rất nhiệt tình của đồng bào Công Giáo ở Thái Hà và các cha ở đó. Tôi rất lấy làm cảm ơn về những tấm lòng đó. Tôi nghĩ là mỗi người một tiếng nói, mỗi người một lời cầu nguyện thì những người nhà của chúng tôi là anh Sơn và anh Quân, dù ở trong tù chắc cũng cảm nhận được sự đùm bọc, sự lên tiếng, yêu thương của đồng bào đối với các anh. Tôi nghĩ rằng mỗi người một tiếng nói, một tấm lòng thì sẽ giúp được cho việc đòi công lý sớm cho chúng tôi ».

Ước gì nghi thức Phụng vụ này được phát triển tổ chức khắp nơi để Thánh Thể được mọi người cùng đón nhận nơi Bàn Tiệc Thánh Lương thực thiêng liêng giúp dân Chúa sống vượt qua những khó khăn hàng ngày trên Quê hương. Chúng ta hãy noi gương Vị Mục tử mà Án phong Chân phước đang tiến hành, với hai giọt rượu và một giọt nước, đã mời Đức Kitô vào Nhà tù để nuôi những tù nhân ‘không bản án’ trong hoàn cảnh thật khó sống, có nhiều khi không thể đọc một Kinh Lạy Cha như Người nói. Ngày nay, tại những Đại hội Thánh Thể, Ban tổ chức nhắc Sứ vụ Truyền Phép này đem lại niềm hoan lạc và gia tăng Đức Tin nơi người tham dự. Trong Tin Mừng của mình, Đức Kitô hứa sẽ mở cửa cho ai gỏ nó.

Trong ‘Dụ ngôn người Samari tốt lành’ (Lc 10, 25-37), một ông thưa với Đức Giêsu rằng ‘ai là người thân cận của tôi?’. Người đáp: « Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Kế đến, một thầy Lêvi đi tới, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samaria kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông lại gần, lấy dầu và rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ ông săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiều, thì khi trở về, tôi sẽ hoàn lại’. Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?’ Người thông luật trả lời: ‘Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy’. Đức Giêsu bảo ông ta: ‘Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy’. Chúng ta là ai trong ba người đó ?
 
Thông Báo
Cáo phó: LM Vinh Sơn Nguyễn Tốt Nghiệp qua đời tại Bùi Chu
Lm. Giuse Phạm Quốc Điêm
04:46 06/07/2013
CÁO PHÓ
Trong niềm tín thác vào Chúa Kitô Phục Sinh
Toà Giám mục Bùi Chu
Xuân Ngọc, Xuân Trường, Nam Định kính báo
CHA CỐ VINH SƠN NGUYỄN TỐT NGHIỆP
sinh ngày 22 tháng 06 năm 1939
tại giáo xứ Thánh Thể, giáo phận Bùi Chu
xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
1955-1956: Chủng viện Mẫu Tâm Bùi Chu
1956-1960: Chủng viện thánh Gioan Hà Nội
1966-1973: Đi tù vì Chúa, lần I
06/06/1976: Thụ phong linh mục
1976-1983: Âm thầm thi hành thánh chức linh mục tại gia đình
1983-1987: Đi tù vì Chúa, lần II
1987-1993: Âm thầm thi hành thánh chức linh mục tại gia đình
1993-1994: Quản xứ Quần Cống và Cát Phú
1995-2002: Chánh Văn phòng TGM Bùi Chu, chánh xứ Lục Thuỷ và Thuỷ Nhai
1995-2003: Đặc trách ơn gọi giáo phận
2002-2003: Chánh xứ Trung Linh
2003-2007: Chánh xứ Kiên Lao
2003-2005: Đặc trách các dòng tu giáo phận
2007-2013: Chánh xứ Thánh Mẫu
sau một thời gian nghỉ bệnh tại quê nhà, đã được Chúa gọi về
lúc 04 giờ 15 phút, thứ Bảy, ngày 06 tháng Bảy năm 2013 (29 tháng Năm năm Quý Tỵ)
hưởng thọ 74 tuổi.

Thánh lễ cầu nguyện do Cha Chính Giáo Phận chủ tế
lúc 15 giờ 00, thứ Hai, ngày 08 tháng Bảy năm 2013, tại nhà thờ giáo xứ Thánh Thể.

Thánh lễ An táng do Đức Cha Giáo Phận chủ tế
lúc 09 giờ 00, thứ Ba, ngày 09 tháng Bảy năm 2013, tại nhà thờ giáo xứ Thánh Thể.
An táng tại khuôn viên nhà thờ giáo xứ Thánh Thể.

Xin Quý Cha, Quý Thầy, Quý Tu Sĩ và Anh Chị Em Giáo Hữu
đến tham dự Thánh lễ An táng và cầu nguyện cho Cha Cố Vinh Sơn.

Kính báo
Lm. Giuse Phạm Quốc Điêm
Thư ký

* Lễ phục tím
* Xin Quý Cha giáo phận dâng 3 thánh lễ cầu nguyện cho Cha Cố Vinh Sơn.