Ngày 04-02-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 05/02: Người thừa sai không phải là kẻ bố thí mà là kẻ tín thác–Lm. Antôn Nguyễn Thế Nhân, SSS
Giáo Hội Năm Châu
02:02 04/02/2026

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

Khi ấy, Đức Giê-su gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế. 8 Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; 9 được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. 10 Người bảo các ông : “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. 11 Còn nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ.” 12 Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. 13 Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.

Đó là Lời Chúa
 
Văn Hóa
Tin mừng Gia Đình trong nền văn hóa bão hòa về tình dục, chương bốn, tiếp theo và hết
Vũ Văn An
00:45 04/02/2026

4. 5. Con Đường Sám Hối

Cùng một chủ thể đạo đức, thấy mình khó hứa hẹn, ràng buộc mình với tương lai, cũng thấy khó ăn năn và xin tha thứ, hoặc ban sự tha thứ, khi liên hệ mình với quá khứ. Điều này đưa chúng ta đến giải pháp thứ hai mà Đức Hồng Y Kasper đề xuất cho vấn đề người ly hôn và tái hôn dân sự. Đức Hồng Y chỉ ra rằng “Bộ Giáo lý Đức tin đã đưa ra một hướng dẫn vào năm 1994 khi tuyên bố—và Đức Bênêđictô XVI đã nhắc lại điều này tại Đại hội Gia đình Thế giới ở Milan năm 2012—rằng người ly hôn và tái hôn nhất định không thể rước lễ, nhưng quả có thể rước lễ thiêng liêng. (44) Nhưng nếu ai đó có thể được kết hợp với Chúa Kitô một cách thiêng liêng, thì “tại sao, người đó lại không thể rước lễ một cách bí tích?” (45) Theo Đức Hồng Y, việc Giáo hội loại trừ những người ly dị và tái hôn khỏi việc Rước lễ bí tích và giới thiệu họ đến điều mà ngài gọi là “con đường cứu rỗi ngoài bí tích” có thể “đặt cấu trúc bí tích cơ bản của Giáo hội vào vòng nghi vấn”. (46)

Thoạt nhìn, lập luận này có vẻ gần như hoàn hảo. Nhưng một lần nữa, tất cả có thể phụ thuộc vào việc chúng ta hiểu chính xác “rước lễ thiêng liêng” là gì và chúng ta hiểu mối quan hệ của nó với “rước lễ bí tích” như thế nào. Như Benoît-Dominique de La Soujeole đã chỉ ra, thuật ngữ này đã được sử dụng để chỉ hai thực tại khác nhau. (47) Theo nghĩa nguyên thủy hơn, thuật ngữ “rước lễ thiêng liêng” đã được các tác giả Kitô giáo và các văn kiện của Giáo hội sử dụng để chỉ hoa trái của việc Rước lễ bí tích, trạng thái được kết hợp thiêng liêng và mật thiết nhất với Chúa Kitô. Theo nghĩa này, “Rước lễ bí tích hướng đến rước lễ thiêng liêng như sự bất toàn hướng đến sự hoàn hảo.”(48) Đây là ý nghĩa mà Công đồng Trent hàm ý khi phân biệt ba cách rước lễ Thánh Thể: “một số người chỉ rước lễ cách bí tích vì họ như những kẻ tội lỗi”, (49) Rồi có những người “chỉ rước lễ cách thiêng liêng”, họ là những người, đón nhận, bằng ước muốn, bánh từ trời được đặt trước mặt, với một đức tin sống động ‘hoạt động nhờ đức ái’ [Gl 5:6], cảm nghiệm được hoa trái của bánh ấy và hưởng nhờ nó. Nhóm thứ ba rước lễ vừa bí tích vừa thiêng liêng [điều luật 8]; Họ là những người xét mình và chuẩn bị trước để đến gần bàn tiệc thánh này, mặc y phục ăn cưới [so sánh Mt 22:11f.]”, (50)

Khi Công đồng nói về những người rước lễ thiêng liêng, không phải là những người kiêng rước lễ bí tích vì họ ý thức mình có tội trọng chưa xưng, hoặc vì họ công khai sống trong những hoàn cảnh bất hợp lệ. Thật vậy, các Nghị phụ Công đồng nói về những người có “một đức tin sống động ‘hoạt động qua tình yêu’”, một cách khác để nói rằng họ đang sống trong tình trạng ân sủng. Có thể có nhiều lý do khác nhau khiến họ muốn rước lễ chỉ vì ước muốn. Thứ nhất, có bối cảnh văn hóa thời trung cổ và đầu thời hiện đại, khi nhiều người nghĩ rằng bằng cách kiêng rước lễ bí tích, họ sẽ thể hiện sự tôn trọng đặc biệt đối với bí tích. (51) Mặc dù cách hiểu ngày nay về việc phải tôn kính bí tích ra sao có khác, vì việc rước lễ bí tích thường xuyên thường được khuyến khích, chúng ta vẫn có thể nghĩ đến nhiều lý do phi luân lý khác giải thích tại sao người ta muốn rước lễ chỉ vì lòng ước muốn: họ có thể muốn tôn trọng việc giữ chay Thánh Thể; họ đến Thánh lễ muộn đến mức cảm thấy mình thiếu bình tĩnh; họ tự phát và không thực sự phạm tội, cảm thấy tức giận với người khác đã làm phiền họ chỉ năm phút trước Thánh lễ. Theo de La Soujeole, chúng ta nên nghĩ về một người rước lễ thiêng liêng như vậy như một người “đã chịu phép rửa tội đầy sốt sắng, cuộc sống của họ được hòa nhịp với việc tham gia vào mầu nhiệm Thánh Thể, người thực hiện các việc rước lễ thiêng liêng (hành vi đức tin) trong cuộc sống hằng ngày, và nhờ đó đạt tới hoa trái trọn vẹn của sự rước lễ bí tích mà họ đã lãnh nhận trước đó”. (52) Nếu chúng ta hiểu “rước lễ thiêng liêng” theo cách này, thì lời phản đối của Đức Hồng Y Kasper tất yếu sẽ như sau: “Người rước lễ thiêng liêng là một với Chúa Giêsu Kitô. Vậy thì làm sao người ấy có thể trái ngược với lệnh truyền của Chúa Kitô? Vậy thì tại sao người ấy lại không thể rước lễ bí tích?” (53)

Tuy nhiên, dường như các văn kiện Huấn quyền gần đây nói về “rước lễ thiêng liêng” theo một nghĩa khác. Trong Sacramentum caritatis, chúng ta đọc thấy: “Ngay cả trong những trường hợp không thể rước lễ bí tích, việc tham dự Thánh lễ vẫn là cần thiết, quan trọng, ý nghĩa và có hiệu quả. Trong những hoàn cảnh như vậy, việc vun trồng ước muốn kết hiệp trọn vẹn với Chúa Kitô qua việc thực hành rước lễ thiêng liêng, điều này được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ca ngợi và được các thánh, những bậc thầy về đời sống thiêng liêng, khuyến khích” (số 55). Ở đây, việc thực hành Rước lễ thiêng liêng dường như không ám chỉ đến sự viên mãn hay hoa trái của việc Rước lễ bí tích, mà đúng hơn là “mong muốn Bí tích Thánh Thể” (54) Trong khi trong bối cảnh trước, “rước lễ thiêng liêng” ám chỉ sự kết hiệp thực sự của ước muốn, thì ở đây, điều dường như đang nói tới chỉ là ước muốn kết hiệp (55) Đó là một ước muốn mà “khi nó lớn lên, cuối cùng có thể dẫn dắt tội nhân đến chỗ đoạn tuyệt với nguyên nhân vẫn còn ngăn cách họ với Bí tích và do đó với sự hiệp thông thiêng liêng hoàn hảo với Chúa Kitô, vốn là hoa trái của Bí tích”, (56) Do đó, rước lễ thiêng liêng không bao giờ là “ngoài Bí tích”: nó luôn hướng đến Bí tích. Thật vậy, trong trường hợp này, nó có nghĩa là vun trồng ước muốn rước lễ bí tích.

Loại rước lễ thiêng liêng này liên quan đến hai hạng người. Thứ nhất, là trường hợp của những người mà trong lương tâm họ ý thức mình đã phạm tội trọng chưa xưng. Việc rước lễ thiêng liêng, tức là việc nuôi dưỡng lòng khao khát bí tích, sẽ giúp họ mở lòng đón nhận ân sủng hoán cải, nhận được sức mạnh để từ bỏ tội lỗi và đón nhận bí tích hòa giải. Nhưng rồi “cũng là trường hợp của những người, bất kể phán đoán của lương tâm họ ra sao, đang ở trong một hoàn cảnh bên ngoài khách quan trái ngược với luân lý Kitô giáo.” (57) Ví dụ, đây là trường hợp của những người đã ly hôn và tái hôn dân sự. Ở đây, Đức Hồng Y Caffarra nhấn mạnh rằng “lý do tại sao Giáo Hội không cho phép những người đã ly hôn và tái hôn được rước lễ không phải vì Giáo Hội tự động cho rằng tất cả họ đều đang ở trong tình trạng tội trọng. Chúa, Đấng thấu suốt tâm hồn, biết rõ lương tâm chủ quan của những người này. Chính Thánh Phaolô đã nói ‘đừng xét đoán vội vàng’, nhưng bởi vì, và điều này đã được viết trong Familiaris Consortio, ‘tình trạng và điều kiện sống của họ trái ngược một cách khách quan với sự kết hợp tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội được biểu tượng và thực hiện qua Bí tích Thánh Thể’ (FC 84) Thánh Gioan Phaolô II cũng nhận xét rằng “việc phán xét tình trạng ân sủng của một người rõ ràng chỉ thuộc về người liên quan.” (59) Mỗi người được kêu gọi tự vấn lương tâm của mình và cuối cùng đứng trước Thiên Chúa như là vị thẩm phán cuối cùng của mình. Tuy nhiên, Giáo Hội cảm thấy có thẩm quyền phán xét tình trạng sống khách quan của một người, do đó “trong những trường hợp hành vi bên ngoài trái ngược nghiêm trọng, rõ ràng và kiên quyết với chuẩn mực luân lý, Giáo Hội, trong mối quan tâm mục vụ của mình đối với trật tự tốt đẹp của cộng đồng và vì tôn trọng bí tích, không thể không cảm thấy trực tiếp can dự”, vào việc không cho những người đang sống trong những hoàn cảnh như vậy được Rước lễ Thánh Thể. (60)

Tất nhiên, ở đây, Đức Hồng Y Kasper nhận xét rằng “không có người ly dị và tái hôn [trừu tượng].” (61) Nói cách khác, vì hoàn cảnh sống của mỗi người hoàn toàn đặc thù, nên không thể nói về những điều kiện sống khách quan. Chỉ có những trường hợp cá biệt, mỗi trường hợp phải được xem xét riêng biệt. (62) Tuy nhiên, điều này được nói một cách rất duy danh [nominalistically]. Theo cùng một nghĩa, thì sẽ không có tội nhân, người công chính, kẻ giết người, kẻ trộm cắp hay người đức hạnh, nhưng tội lỗi, công lý, giết người, trộm cắp và đức hạnh không phải là khái niệm trống rỗng. Nếu các hành vi xác định một hoàn cảnh sống nhất định có thể được định nghĩa một cách khách quan, thì hoàn cảnh sống đó cũng có thể được định nghĩa một cách khách quan, mà không cần phải viện đến hoàn cảnh hay ý định. Việc các hành vi có thể được định nghĩa như vậy là giáo huấn rõ ràng của thông điệp Veritatis splendor của Đức Gioan Phaolô II: “Không hề phủ nhận ảnh hưởng của hoàn cảnh và đặc biệt là ý định đối với đạo đức, Giáo hội dạy rằng 'có những hành vi tự nó và trong chính chúng, độc lập với hoàn cảnh, luôn luôn sai trái nghiêm trọng vì lý do đối tượng của chúng.' ” (63) Đúng là lý do và cách thức người ta rơi vào tình trạng ly hôn và tái hôn luôn khác nhau và đặc thù, và đúng là ý định và hoàn cảnh có thể làm giảm nhẹ hoặc làm trầm trọng thêm, nhưng không bao giờ biện minh. Vì hoàn cảnh khách quan của họ được xác định bằng những hành vi đặc thù, có thể mô tả rõ ràng, nên hoàn cảnh này không chỉ tương tự mà còn y như nhau: đó là tình trạng hai người sống chung và thường xuyên thực hiện những hành vi dành riêng cho vợ chồng, mặc dù họ không kết hôn, (64) và ít nhất một trong hai người đã kết hôn với người khác.

Vì vậy, khi Giáo Hội phán đoán rằng một trạng thái sống nào đó trái với giáo huấn của Tin mừng, thì thực ra Giáo Hội có thể phán đoán điều gì đó. Khi Giáo Hội không cho rước lễ những người rơi vào tình huống như vậy, Giáo Hội không đưa ra hình phạt. Thay vào đó, Giáo Hội mời gọi họ thay đổi trạng thái sống (ly thân hoặc sống như anh chị em). Lời mời gọi này coi trọng họ như những con người, nghĩa là như những cá nhân mà cuộc sống không phải là điều gì đó tự nhiên xảy đến với họ, mà là những người có khả năng sống cuộc sống của mình vì họ làm chủ cuộc sống của mình và, như những người, nhờ ân sủng của Thiên Chúa có thể thay đổi những điều kiện khách quan của họ. Thực vậy, Giáo Hội đang hành động ở đây như bất cứ người mẹ yêu thương nào đối với con cái mình. Tình yêu đón nhận người khác vô điều kiện—Giáo Hội khuyến khích việc rước lễ thiêng liêng và nhấn mạnh rằng những người ly dị và tái hôn là một phần của Giáo Hội, nhưng đồng thời tình yêu cũng làm mọi cách để kêu gọi người kia, để giúp họ trưởng thành, thậm chí khuyến khích người được yêu thay đổi triệt để nếu họ sống theo cách làm tổn hại đến sự hiệp thông của gia đình và đi ngược lại lợi ích của chính họ. Đây là điều Giáo Hội làm khi không cho những người ly dị và tái hôn dân sự được Rước Lễ Bí Tích; Giáo Hội yêu thương họ bằng cách mời gọi họ thay đổi. Giáo Hội không từ chối phương thuốc Thánh Thể cho những ai “kêu cứu”, biến một người thành công cụ bằng cách biến họ “thành dấu chỉ cho người khác”. Giáo Hội cũng không để “họ chết đói về mặt bí tích để người khác được sống”. (65) Không phải thức ăn nào cũng tốt cho tất cả mọi người (x. 1 Cr 3:2), và không phải thuốc nào cũng chữa lành trong mọi tình trạng. Có những loại thuốc, nếu dùng sai cách, có thể gây tử vong.

Đức Hồng Y Kasper đã đúng khi nhắc đến lòng quảng đại và ân sủng vô biên mà Chúa ban cho tội nhân ăn năn: “Đối với người ăn năn, sự tha thứ là có thể. Nếu sự tha thứ có thể dành cho kẻ giết người, thì cũng có thể dành cho kẻ ngoại tình.” (66) Không còn nghi ngờ gì nữa về điều này. Trong cuộc phỏng vấn với Die Tagespost, Giáo sư Juan José Pérez-Soba đã cảnh báo về những diễn biến có thể khiến ngoại tình trở thành tội lỗi đầu tiên mà người ta có thể nhận được sự tha thứ mà không cần ăn năn, (67) Đức Hồng Y Kasper, đến lượt mình, khi trả lời phỏng vấn trang web tin tức Công Giáo Kath.net, đã trả lời rằng ngài thực sự đã nói về sự cần thiết của sự ăn năn và toàn bộ vấn đề là một “cuộc thảo luận ảo” trong đó ngài bị chỉ trích vì những lập trường mà ngài chưa bao giờ thực sự nắm giữ. (68) Sẽ rất đáng hoan nghênh nếu biết rằng một sự hiểu lầm đơn giản nằm ở gốc rễ của cuộc tranh luận. Để tìm hiểu xem đây có phải là trường hợp hay không, chúng ta sẽ xem xét lại những gì Đức Hồng Y Kasper nói trong cuốn Tin Mừng Gia Đình về sự cần thiết phải ăn năn của người ly dị và tái hôn:

Nhưng nếu một người đã ly dị và tái hôn thực sự hối hận vì đã thất bại trong cuộc hôn nhân đầu tiên, nếu những cam kết từ cuộc hôn nhân đầu tiên được làm rõ và sự quay trở lại dứt khoát ngoài vấn đề, nếu người ấy không thể hủy bỏ những cam kết đã cam kết trong cuộc hôn nhân dân sự thứ hai mà không mang tội lỗi mới, nếu người ấy cố gắng hết sức để sống cuộc hôn nhân dân sự thứ hai trên cơ sở đức tin và nuôi dạy con cái trong đức tin, nếu người ấy khao khát các bí tích như một nguồn sức mạnh trong hoàn cảnh của mình, thì liệu chúng ta có phải từ chối hay có thể từ chối cho người ấy bí tích sám hối và rước lễ, sau một thời gian định hướng lại? (69)

Tất nhiên, tác giả đang giới thiệu chủ đề sám hối ở đây, khi ngài nói, "Nếu một người đã ly hôn và tái hôn thực sự hối hận...". Nhưng những gì tiếp theo sau đó là một trong những chi tiết kỳ lạ nhất của toàn bộ tập sách. Người đã ly hôn và tái hôn hối hận vì điều gì? Liệu họ có hối hận vì đã vi phạm giao ước hôn nhân với người phối ngẫu của mình, một giao ước là dấu chỉ bí tích về tình yêu của Thiên Chúa đối với Hội Thánh của Người không? Liệu họ có hối hận vì đã ngoại tình bằng cách quan hệ tình dục với một người mà họ không phải là vợ/chồng? (70) Không, vì tất cả những điều này, người đã ly hôn và tái hôn không “thực sự hối hận” mà đúng hơn là “người đó đã thất bại trong cuộc hôn nhân đầu tiên”(71).

Giờ đây, chúng ta chỉ có thể hứa những gì trong khả năng của mình để làm hoặc không làm. Lời hứa hôn nhân không thể là lời hứa rằng cuộc hôn nhân của một người sẽ thành công, bởi vì thành công hay thất bại trong hôn nhân không chỉ phụ thuộc vào cá nhân. Cần có hai người để nhảy tango, và đôi khi thậm chí có thể có những hoàn cảnh nằm ngoài khả năng của cả hai, góp phần đáng kể vào sự thất bại trong hôn nhân, khiến việc đổ lỗi trở nên khó khăn. Trong một trường hợp khác, lỗi lầm về sự thất bại có thể chỉ thuộc về một người, trong trường hợp đó có một người khác không có lỗi. Thất bại trong hôn nhân, có thể dẫn đến ly thân, vẫn chưa phải là sự phá vỡ lời hứa hôn nhân, và do đó, bản thân nó không nhất thiết phải là điều mà người ta cần phải ăn năn. Người ta có thể phải ăn năn về những hành vi tự do lựa chọn đã dẫn đến điều đó, nhưng mặt khác, người ta cũng có thể đã làm mọi cách trong khả năng của mình để ngăn chặn điều đó.

Nếu vào ngày cưới, cô dâu và chú rể không hứa hẹn hạnh phúc hôn nhân, thì họ hứa gì với nhau? Họ hứa hẹn sự độc quyền và chung thủy cho đến chết. Lời hứa này có thể được duy trì ngay cả khi trong một số trường hợp, việc tiếp tục chung sống trở nên không thể chịu đựng được. Chỉ khi đôi vợ chồng thực hiện lời hứa này một cách nghiêm túc, họ mới dồn hết tâm huyết vào mối quan hệ; chỉ khi đó, họ mới chống lại được cám dỗ tự coi mình là những kẻ cắm trại, chỉ cần cảm thấy bất tiện là họ sẽ rời đi. Mỗi người sẽ là cơ hội duy nhất cho người kia. "Em là duy nhất của anh", người yêu nói với người mình yêu. "Ngay cả trong trường hợp không thể tưởng tượng được rằng tình yêu của chúng ta tan vỡ, em vẫn sẽ là duy nhất của anh. Anh sẽ luôn để đèn sáng cho em." Hôn nhân bất khả phân ly có nghĩa là cánh cửa luôn rộng mở cho người kia, ngay cả khi phải xa cách mái nhà và giường chiếu. Lời hứa hôn nhân chỉ bị phá vỡ khi một cuộc hôn nhân mới được tìm kiếm. Việc cuộc hôn nhân mới này có được Nhà nước chấp thuận hay không cũng không khác biệt nhiều so với những gì Đức Hồng Y đề xuất. Đúng là Familiaris consortio khuyên các mục tử linh hồn phải phân biệt cẩn thận “giữa những người đã thành tâm cố gắng cứu vãn cuộc hôn nhân đầu tiên của mình và đã bị bỏ rơi một cách bất công với những người, do lỗi lầm nghiêm trọng của chính mình, đã phá hủy một cuộc hôn nhân hợp lệ theo giáo luật” và phải nhận thức được hoàn cảnh chủ quan của những người “đã bước vào cuộc hôn nhân thứ hai vì mục đích nuôi dạy con cái và đôi khi chủ quan tin chắc trong lương tâm rằng cuộc hôn nhân trước đó đã bị phá hủy không thể cứu vãn của họ chưa bao giờ hợp lệ” (72). Cũng đúng là tông huấn của Đức Gioan Phaolô II không sử dụng thuật ngữ “kết hợp ngoại tình”. Tuy nhiên, cùng một văn kiện cũng nói rõ rằng dù sao trong tất cả những trường hợp này, chúng ta đang đối diện với một lối sống “trái ngược với tính bất khả phân ly của hôn nhân”.(73)

Theo Familiaris consortio, điều cần sám hối không phải là sự thất bại của cuộc hôn nhân đầu tiên mà là sự thật “đã phá vỡ dấu chỉ của giao ước và lòng trung thành với Chúa Kitô”, (74) Điều đầu tiên mà sự sám hối hàm ý là một sự thay đổi trong hành vi của một người. Trong trường hợp này, điều đó hàm ý sự sẵn sàng theo đuổi một lối sống không còn mâu thuẫn với tính bất khả phân ly của hôn nhân nữa”, (75) Đức Hồng Y Kasper lập luận một cách đúng đắn rằng “nếu kẻ sát nhân có thể được tha thứ, thì kẻ ngoại tình cũng có thể được tha thứ”. (76) Tuy nhiên, để được tha thứ, kẻ sát nhân phải ăn năn. Dấu hiệu đầu tiên của sự ăn năn đối với hắn là ngừng giết người. Đức Hồng Y Kasper nói về “con đường cho phép những người đã ly dị, nhưng tái hôn dân sự, được lãnh nhận bí tích Hòa giải và Thánh thể trong những hoàn cảnh cụ thể, sau một thời gian tái định hướng” (77). Ở đây, tôi không chắc chắn tôi có thể thấy một nẻo đường nào. Với tất cả sự tôn trọng—và luôn luôn cho phép khả năng có sự hiểu lầm—theo tôi, hình ảnh gợi lên ở đây không hẳn là một con đường mà giống như một máy chạy bộ. Những người ly dị và tái hôn dường như được mời đi bộ (họ làm các hành vi sám hối) mà không cần đi đâu cả (họ vẫn tiếp tục sống chung một mái nhà và cùng một chiếc giường).

Nếu một người đàn ông đến gặp linh mục để nhận bí tích hòa giải, thú nhận rằng anh ta đã đánh cắp chiếc Ferrari của hàng xóm, thì linh mục sẽ nói gì với anh ta? Làm sám hối? Có. Làm một chuyến hành hương, đọc thêm vài lời cầu nguyện, và bố thí? Có lẽ vậy. Tuy nhiên, trước hết, người ta sẽ cho rằng linh mục sẽ khuyên anh ta trả lại chiếc xe và biến ý chí kiên định của hối nhân thành điều kiện để được tha tội. Thật khó có thể tưởng tượng rằng một vị mục tử linh hồn lại khuyên hối nhân của mình rằng sau một năm sám hối, anh ta có thể chính thức bắt đầu sử dụng xe, miễn là không phải lo sợ hậu quả pháp lý nào. Tôi khá chắc chắn rằng Đức Hồng Y Kasper sẽ khẳng định rằng lập luận của ngài về việc cho phép một số người ly dị và tái hôn được lãnh nhận các bí tích là khác biệt, và tôi hoàn toàn sẵn lòng tìm hiểu xem điều đó sẽ như thế nào trong các khía cạnh liên quan. Thật vậy, Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng oikonomia mà ngài đề xuất “không phải là một con đường rẻ tiền hay một lối thoát tiện lợi. Điều này nghiêm túc xem xét rằng, như Martin Luther đã trình bày một cách chính xác trong luận đề đầu tiên của Chín Mươi Lăm Luận Đề vào năm 1517, toàn bộ đời sống Kitô hữu là một đời sống sám hối, nghĩa là một đời sống liên tục suy nghĩ lại và định hướng lại (metanoia),” (78) Chính sự suy nghĩ lại và định hướng lại này, theo Familiaris consortio, vẫn còn quá thiếu sót ở những người đã ly dị và tái hôn dân sự, những người khăng khăng duy trì các mối quan hệ thân mật bên ngoài cuộc hôn nhân bí tích đích thực duy nhất của họ.(79) Trong khi nhà Cải cách có thể gợi ý rằng không tội lỗi nào có thể tách chúng ta khỏi Chiên Con, “dù chúng ta có gian dâm hay giết người hàng ngàn lần một ngày”, (80) thì thẩm quyền của chính Chúa Giêsu dường như còn lớn hơn: “Ta cũng vậy, ta không lên án ngươi; hãy đi và đừng phạm tội nữa” (Ga 8:11).
_______________________________________________________________________
1. Tin mừng Gia đình, các tr.16-17
2. Friedrich Nietzsche, The Genealogy of Morals, Douglas Smith dịch (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1998), tr. 41
3. Sđd.
4. Sđd. Để có một cuộc thảo luận rất rõ ràng về đoạn văn này, hãy xem Hannah Arendt, The Human Condition, ấn bản lần 2 (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1998). tr. 2.8: “Nietzsche, với sự nhạy cảm phi thường của mình đối với các hiện tượng đạo đức, và bất chấp định kiến hiện đại của ông khi cho rằng nguồn gốc của mọi sức mạnh nằm ở ý chí của cá nhân biệt lập, đã nhìn thấy trong khả năng hứa hẹn (‘ký ức của ý chí,’ như ông gọi nó) chính là sự khác biệt phân biệt con người với đời sống động vật.”
5. “Diễn văn của Đức Thánh Cha Benedict XVI nhân dịp Giáng sinh gửi Giáo triều Rôma”, ngày 21 tháng 12 năm 2012.
6. Ibid.
7.Tin mừng Gia Đình, trang 28.
8. Ibid.
9. Ibid.
10. Ibid. Tr. 29
11. Ibid., tr.28
12. Ibid., tr. 33
13 Zygmunt Baurrian, Liquid Modernity (Malden, Mass.: Polity Press, 2000),tr. 24
14. Ibid.
15.Ibid., tr. 116.
16.Arendt, Human Condition. Tr 253
17.Bauman, Liquid Modernity, trang 163—64.
18. So sánh. “Kampf um CSU-Vorsitz: Pauli will Ehen auf sieben Jahre befristen”, Spiegel Online, ngày 19 tháng 9. 2007. http://www.spiegel.de/politik/deutschland/ kampf—um-csu-vorsitz-pauli-will-ehen-auf-sieben-jahre-befristen-a-506669.html
19. Bauman, Liquid Modernity, tr.164
20. Cf. Francois de La Rochefoucauld, Tuyển tập Châm ngôn và các Suy tư khác, dịch bởi E.H. Blackmore và A.M. Blackmore và Francine Giguere (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2007), Maxim 84, tr.27: “Điều xấu hổ hơn là không tin bạn bè hơn là bị bạn bè lừa dối.”
21.Jacques T. Godbout, hợp tác với Alain Caillé, Thế giới của Hồng phúc, dịch bởi Donald Windier (Montreal và Kingston: Nhà xuất bản Đại học McGill-Queen,1998). Tr.34
22. Ibid.
23. Cf. Ibid
24. Xem Scott Hahn, Kinship by Covenant: A Canonical Approach to the Fulfillment of God’s Saving Promises (New Haven: Yale University Press, 2009)
25.Godbout, World of the Gift, tr. 34.
26.Xem Leo XIII, Thông điệp Arcanum, ngày 10 tháng 2 năm 1880. Giáo huấn của thông điệp đầu tiên hoàn toàn dành riêng cho chủ đề hôn nhân vẫn còn giá trị, có lẽ ngày nay hơn bao giờ hết.
27. "Karl Marx, “Der Ehescheidungspesetzcntwurf”, Rheinische Zeitunng 353; (19 tháng 12 năm 1842); Bản dịch tiếng Anh: Lạm phát: Karl Marx và Friedrich Engels, Collected Works, tập 1 (Lawrence và Wishart: London, 1975), tr. 307.
28. So sánh Joseph Ratzinger, Về Lương Tâm (San Francisco: Ignatius Press, 2007), Trang 13-14:
Trong một cuộc tranh luận, một đồng nghiệp cũ, người nhận thức sâu sắc về hoàn cảnh của các Kitô hữu trong thời đại chúng ta, đã bày tỏ quan điểm cho rằng người ta thực sự nên biết ơn Thiên Chúa vì Người cho phép có rất nhiều người không tin nhưng vẫn có lương tâm tốt. Bởi vì nếu mắt họ được mở ra và họ trở thành tín hữu, thì trong thế giới này của chúng ta, họ sẽ không thể mang nổi gánh nặng đức tin với tất cả các nghĩa vụ đạo đức của nó... Điều khiến tôi băn khoăn là quan niệm mà nó chứa đựng, rằng đức tin là một gánh nặng khó có thể mang vác và chắc chắn chỉ dành cho những người có bản chất mạnh mẽ hơn—đức tin gần như là một hình phạt, dù sao, cũng là một sự áp đặt không dễ dàng đối phó. Theo quan điểm này, đức tin sẽ không làm cho sự cứu rỗi dễ dàng hơn mà còn khó khăn hơn. Được hạnh phúc có nghĩa là không phải trĩu nặng vì phải tin hay chịu đựng ách thống trị đạo đức của đức tin Công Giáo.
29. Xem “Diễn văn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô gửi các cặp đôi đính hôn chuẩn bị kết hôn”, ngày 14 tháng 2 năm 2014.
30. Hội đồng Đạo đức Sinh học của Tổng thống, Vượt ra ngoài Liệu pháp: Công nghệ Sinh học và việc theo đuổi Hạnh phúc (New York, N.Y.: Regan Books, 2003), trang 185.
31. So sánh Max Sclieler, “Ăn năn và Tái sinh”, Về Sự Vĩnh cửu trong Con người (New Brunswick, N.J.: Transaction Publishers, 2010), trang 5:
Vài năm trước, trong một trại tâm thần ở Đức, tôi tình cờ gặp một ông lão bảy mươi tuổi, người đang trải nghiệm toàn bộ môi trường sống của mình bị cắt ngang khỏi mặt phẳng phát triển đạt được ở tuổi mười chín. Điều đó không có nghĩa là ông lão vẫn lạc lõng giữa những vật thể thực tế tạo nên thế giới của mình khi ông còn là một cậu bé mười tám tuổi, rằng ông đã nhìn thấy ngôi nhà của mình thời đó, với những người đi kèm, đường phố, thị trấn, v.v. Không, ông chỉ nhìn, nghe và trải nghiệm những gì đang diễn ra xung quanh mình trong căn phòng, nhưng ông đã sống tất cả như một cậu bé mười tám tuổi, với tất cả những thôi thúc, tham vọng, hy vọng và nỗi sợ hãi cá nhân và chung chung của cậu bé ấy.
32. Xem Hội đồng Đạo đức Sinh học của Tổng thống, Vượt ra ngoài Liệu pháp, trang 185.
33. LF 52
34. Xem “Diễn văn của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trước những người tham dự Hội nghị do Viện Nghiên cứu Hôn nhân và Gia đình Gioan Phaolô II cổ vũ”, Thứ Sáu, ngày 13 tháng 5 năm 2011: “Chính trong gia đình, con người khám phá ra rằng mình không ở trong một mối quan hệ như một cá nhân tự chủ, mà như một đứa con, một người phối ngẫu hoặc một người cha mẹ, với bản sắc được xây dựng trên việc được kêu gọi yêu thương, đón nhận từ người khác và trao ban chính mình cho người khác.”
35. Xem Jay Teachrnan, “Quan hệ tình dục trước hôn nhân, Sống chung trước hôn nhân. và Nguy cơ tan vỡ hôn nhân sau đó ở phụ nữ”, Tạp chí Hôn nhân và Gia đình, (tháng 5 năm 2003): 444-55:
Những phụ nữ sống chung trước hôn nhân hoặc quan hệ tình dục trước hôn nhân có nguy cơ tan vỡ hôn nhân cao hơn. Xem xét những tác động chung của việc sống chung trước hôn nhân và quan hệ tình dục trước hôn nhân, cũng như lịch sử các mối quan hệ tiền hôn nhân, mở rộng các nghiên cứu trước đây. Phát hiện nổi bật nhất từ phân tích này là những phụ nữ có mối quan hệ thân mật tiền hôn nhân với chồng mình - dù là quan hệ tình dục đơn thuần hay sống thử trước hôn nhân - không bị tăng nguy cơ ly hôn. Chỉ những phụ nữ có nhiều hơn một mối quan hệ thân mật tiền hôn nhân mới có nguy cơ đổ vỡ hôn nhân cao hơn. Ảnh hưởng này mạnh nhất đối với những phụ nữ có nhiều cuộc sống chung trước hôn nhân. (tr. 453)
36 Xem ibid: “Những phát hiện này phù hợp với quan niệm cho rằng quan hệ tình dục trước hôn nhân và sống thử đã trở thành một phần của mô hình tìm hiểu thông thường ở Hoa Kỳ. Chúng không chỉ ra sự chọn lọc về các đặc điểm liên quan đến nguy cơ ly hôn và không mang lại cho các cặp đôi những trải nghiệm làm giảm tính ổn định của hôn nhân.”
37. Xem Alasdair MacIntyre, After Virtue.’ A Study in Moral Theory, ấn bản lần 2 (Notre Dame: Nhà xuất bản Đại học Notre Dame, 1984); xem đặc biệt chương 15, “Các Đức Hạnh, Sự Thống Nhất của Đời Sống Con Người và Khái Niệm về Truyền Thống” (tr.204-25).
38. Robert Spaemann, Persons: The Difference between “Someone” and “Something”, dịch bởi Oliver O'Donovan (Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2006), tr.226-27: “Hôn nhân không phải là một lời hứa thông thường để thực hiện một điều gì đó, mà người ta vẫn có thể thực hiện khi người ta không còn muốn làm, hoặc không còn cảm thấy hứng thú đặc biệt đã thôi thúc người ta thực hiện lời hứa ban đầu. Với lời thề hôn nhân, hai người gắn kết vận mệnh của mình với nhau một cách không thể thay đổi—hay ít nhất, đó chính là ý nghĩa của lời thề. Lời hứa này khó có thể được thực hiện nếu người ta thực sự thay đổi ý định một cách căn bản.”
39. Ibid., tr. 227
40. Ibid., tr. 228.
41. Ibid.
42. So sánh Ibid., tr. 227: “Ở mỗi giai đoạn phát triển của họ, người ta đều nhận thức được ý nghĩa của nó đối với người khác và đối với sự phát triển của người khác. Đây là một hạn chế rất đáng kể về khả năng vận động của chúng ta, nhưng không phải là hạn chế tự do của chúng ta. Bởi vì dù sao đi nữa, chúng ta cũng không thể khai thác hết toàn bộ các khả thể. Với mỗi khả thể chúng ta chọn, chúng ta lại loại bỏ những khả thể khác. Nếu không muốn trả cái giá đó, chúng ta sẽ không bao giờ nắm bắt được những khả thể mình có, và do đó, không bao giờ thực sự nhận ra tự do.”
43. Maurice Blondel, Action (1893): Essay on a Critique of Life and a Science of Practice [Hành động 01893): Tiểu luận về một Phê bình sự sống và Khoa học Thực hành], dịch bởi Oliva Blanchette (Notre Dame: Nhà xuất bản Đại học Notre Dame, 2OO3), trang 4.
44. Tin Mừng Gia đình, tr. 30.
45. Ibid.
46. Ibid.
47. Benoit-Dominique de La Soujeole, “Communion Saramentelle et Communion Spirituelle”, Nora et Vetera 86, số 2 (2011): 147-53
48. Trích trong Ibid., p. 149: “La Communion Sacramentelle est ordonnée à la Communion Spirituelle comme l'imparfait l'est au parfait” (tất cả bản dịch của de La Soujeolo đều là của riêng chúng tôi).
49.Công đồng Trent, Session 13 chapter 8, được trích dẫn trong bản dịch tiếng Anh của Henrich-Denzinger-Peter Hünerman, Compendium of Creeds, Declarations and Decfinitions on Matters of Faith and Morals (San Francisco: Ignatius Press, 2012), tr. 396, số 1648.
50. Ibid.
51. Xem de La Soujeole, “Communion sacramentelle”, trang 148, số 5.
52.Ibid., tr. 151: “II y a d'abord le cas du baptisé fervent not la vie est comme 'rythmée' par la participation au mystère eucharistique, qui dans son existence quotidienne fait des communicities Spirituelles (actes de foi vive), qui atteint par là le Fruit parfait de la Communion Sacramentelle qu'il a reçu precédemment.”
53. Tin Mừng Gia Đình, tr. 30.
54.Cf. de La Soujeole, “Communion sacramentelle”, tr. 150: “L'Expression ‘communion spirituelle’ signifie ici le désir du sacrement eucharistique.”
55. X. Ibid.
56. Cùng nguồn: “C'est ce désir qui, grandissant, peut à terme conduire le pécheur à rompre avec la Cause qui le sépare encore du sacrement et donc de la Communion spirituelle parfait avec le Christ qui est le Fruit du sacrement.”
57. Như trên, tr. 151: “C'est aussi le cas des personnes qui, quel que soit le jugement de leur conscience, sont dans une situation extérieure qui contredit objectivement ave la moral chrétienne.”
58.Carlo Caffarra, “Da Bologna con amore: fermatevi”, Il Foglio, ngày 14 tháng 3 năm 2014; Bản dịch tiếng Anh có tại http://www.zenit.org/en/articles/cardinal
-caffarra-expresses-serious-concerns-about-fnmily-synod-debates#.
59. Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia. Ngày 17 tháng 4 năm 2003, số 37.
60.Ibid.
61 Tin mừng Gia đình, trang 45; nhấn mạnh trong bản gốc.
62. Đức Hồng Y Kasper cũng nhận xét rằng “cũng không phải hoàn cảnh khách quan gây trở ngại cho việc rước lễ, mà đúng hơn là nhiều hoàn cảnh khách quan rất khác nhau” (Ibid.).
63 VS 80.
64. Như chúng ta đã lập luận dài dòng, theo giáo huấn của Giáo Hội, việc dân sự công nhận hôn nhân của họ không thay đổi sự thật rằng họ không kết hôn.
65. Phúc Âm Gia Đình, trang 30.
66. Ibid., trang 32.
67. Juan José Pérez-Soba, “Tiefgründigster Interpret des Konzils”, Die Tagespost, ngày 13 tháng 3 năm 2014, trang 10. 5: “Die igkeit klopft an der Tür des Geschiedenen, damit dieer dem sakramentalen Ehebund treu bleibt und sich aie außerhalb stellt Würde Barmherzigkeit etwai anderes beeuten dann wäre Ehebruch—denn so nennt Jesus selbst eine neue Verbindun e einzige Sünde, die ohne Reueben Verge werden könnte.” (Lòng thương xót gõ cửa người đã ly dị để họ vẫn trung thành với mối dây hôn nhân bí tích và không bao giờ đặt mình hoặc chính mình ra khỏi nó. Nếu lòng thương xót có ý nghĩa khác, thì ngoại tình - vì đó là cách chính Chúa Giêsu gọi là sự kết hợp mới sẽ là tội duy nhất có thể được tha thứ mà không cần ăn năn); bản dịch của riêng chúng tôi.

68. Kasper: 'Für eine bloße Phantomdiskuision ist das problem zu ernst!' ”, ngày 22 tháng 4 năm 2014, http://www.knth.net/ne /456I7: “ Es geht im Vortmg nicht mehr um die Zulassung zur Kommunion, sondern um die Zulassung zum Sakmment der Buße und damit zur Absoluäon Die BuOe setzt voraiu, daii Schuld gegeben und bereut wird, aber ebenso dasi Gon dem, der umkehrt, bamilierzig ist und die Schuld vergibt. Die Behauptung, ich betrachte den Ehe-bnick As die einzige Sünde, die ohiie Reue Vergeben werde, nt barer Unsinn, wie es Unsinn ist, Barmherzigkeit werde von mir ali Toleranz des Bösen verstanden... (W)er sich mit meinen Fragen auseinandersetzen will, sollte kritisieren, was wirklich dasteht Für eine bloße Phantomdiskusiion ist das problem zu ernst!” (Chủ đề của bài thuyết trình không còn là việc được rước lễ nữa mà là việc được lãnh nhận bí tích sám hối và do đó được tha tội. Sám hối giả định rằng có tội lỗi và tội lỗi đó đã được sám hối. Đồng thời, nó cũng giả định rằng Thiên Chúa thương xót tất cả những ai hoán cải, tha thứ tội lỗi cho họ. Việc tôi cho rằng ngoại tình là tội lỗi duy nhất có thể được tha thứ mà không cần sám hối là hoàn toàn vô lý, cũng như việc tôi hiểu lòng thương xót là sự dung túng cho cái ác cũng vô lý... Bất cứ ai muốn trả lời câu hỏi của tôi nên phê bình những gì được viết trong sách. Vấn đề này quá nghiêm trọng để chỉ bàn luận suông!); bản dịch của riêng chúng tôi.
69. Tin mừng Gia đình, tr.32
70. Dù sao, một cuộc họn nhân bí tích thành sự và hoàn hợp tì bất khả tiêu. So sánh Sđd. Tr.43: “không ai nghi vấn tính bất khả tiêu của một cuộc hôn nhân đã được ký kết và hoàn hợp (ratum và consumatum).”
71. Ibid., tr. 32.
72. FC 84
73. Ibid.
74. Ibid.
75 Ibid.
76 Tin Mừng Gia Đình, tr.32.
77. Ibid. tr.52.
78. Ibid. tr.51
79. FC 84.
80. “’Martin Luther, Thư gửi Philipp Melanchthon, số 424 tháng 8 1 1521 ở Werke Kritische Gesamtausgabe Brifwechsel, 2. Ban nhạc (Weimar: Hermann Bohlaus Nachfolger, 1931) tr. 372: “Đủ rồi, quod agnovimus per divitias gloriae Dei agnum, qui tollit peccatum mundi; at hoc non avellet nos peccatum, etiamsi millies, millies uno die fornicemur aut occidamus.” (Chỉ cần nhờ sự giàu có vinh hiển của Đức Chúa Trời, chúng ta biết Chiên Con là Đấng xóa tội trần gian; không có tội lỗi nào có thể ngăn cách chúng ta trước mặt Ngài, ngay cả khi chúng ta gian dâm hoặc giết chết hàng ngàn lần mỗi ngày); bản dịch của riêng chúng tôi
 
VietCatholic TV
Ba Lan tố nhiều lãnh đạo thế giới làm tay sai cho Putin vì dính líu Epstein. Nga bỏ chạy ở Kupiansk
VietCatholic Media
02:55 04/02/2026


1. Thủ tướng Tusk nhận xét rằng hàng loạt các nhà lãnh đạo thế giới đang làm tay sai cho Putin, Ba Lan sẽ điều tra liên hệ giữa Epstein và tình báo Nga.

Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk hôm thứ Ba cho biết Ba Lan sẽ điều tra các cáo buộc cho rằng kẻ phạm tội tình dục đã bị kết án Jeffrey Epstein có thể có liên quan hoặc bị tình báo Nga lợi dụng.

Phát biểu tại cuộc họp nội các, ông Tusk cho biết một nhóm chuyên trách sẽ được thành lập để đánh giá xem các hoạt động tội phạm của Epstein có gây ra hậu quả gì cho Ba Lan hay không, đặc biệt là liên quan đến điều mà ông mô tả là sự can thiệp tiềm tàng của các cơ quan an ninh Nga.

“Ngày càng có nhiều manh mối, ngày càng nhiều thông tin và ngày càng nhiều bình luận trên báo chí toàn cầu đều liên quan đến nghi ngờ rằng vụ bê bối ấu dâm chưa từng có này được các cơ quan tình báo Nga đồng tổ chức”.

“Tôi không cần phải nói với các bạn về mức độ nghiêm trọng của khả năng ngày càng cao rằng các cơ quan tình báo Nga đã đồng tổ chức chiến dịch này đối với an ninh quốc gia Ba Lan và thế giới. Điều này chỉ có thể có nghĩa là họ cũng đang nắm giữ những tài liệu gây bất lợi cho nhiều nhà lãnh đạo vẫn còn đương chức hiện nay. Người Nga đã biến một loạt các nhà lãnh đạo thế giới thành âm binh cho chế độ của Putin. Họ ăn nói ấp a ấp úng, không dứt khoát, tiền hậu bất nhất theo nhịp độ của các áp lực hăm dọa từ Mạc Tư Khoa. Họ hành động trước hết và trên hết là vì lợi ích của nước Nga chứ không phải quốc gia mà họ đang lãnh đạo.”

Kể từ khi Bộ Tư pháp Hoa Kỳ công bố một lượng lớn ba triệu tài liệu vào thứ Sáu, các hãng tin quốc tế đã đưa ra những cáo buộc chưa được kiểm chứng cho rằng Epstein có thể đang điều hành một chiến dịch “kompromat” để tống tiền các doanh nhân, ông trùm truyền thông và chính trị gia.

Nga xuất hiện nổi bật trong loạt tài liệu mới nhất. Putin được nhắc đến trong 1.056 tài liệu và Mạc Tư Khoa trong 9.000 tài liệu.

Những thông tin này dường như cho thấy Epstein vẫn duy trì liên lạc với Putin ngay cả sau khi Epstein bị kết án năm 2008 tại Mỹ vì tội môi giới mại dâm trẻ vị thành niên.

Các email có trong hồ sơ cho thấy vào năm 2010, Epstein đã đề nghị giúp đỡ một cộng sự xin visa Nga. Email viết: “Tôi có một người bạn của Putin, tôi có nên hỏi anh ta không?”

Vào năm 2011, một email từ một người liên lạc không xác định danh tính đã đề cập đến một “cuộc hẹn với Putin” trong chuyến thăm sắp tới tới Nga.

Các email từ năm 2013, liên quan đến cựu thủ tướng Na Uy, đề cập đến một bữa tối dự kiến với Putin ở Paris. Một tin nhắn sau đó gợi ý về một cuộc gặp tiềm năng vào năm 2014, mặc dù không rõ liệu cuộc gặp đó có diễn ra hay không.

Trong một email năm 2015, Epstein viết rằng ông “vẫn muốn gặp Putin và thảo luận về kinh tế.”

Một tin nhắn khác trong năm đó đề cập đến “một số người bạn trong FSB” và bao gồm thư từ trao đổi với Sergei Belyakov, thứ trưởng Bộ Phát triển Kinh tế Nga lúc bấy giờ, đề cập đến một âm mưu tống tiền của một “cô gái Nga đến từ Mạc Tư Khoa”.

Các cuộc trao đổi tiếp theo đề cập đến các cuộc gặp với Putin vào năm 2017 và 2018.

Epstein cũng từng đề nghị cung cấp “thông tin chuyên sâu” về Tổng thống Donald Trump cho Sergei Lavrov, Ngoại trưởng Nga.

Một báo cáo của FBI ngày 27 tháng 11 năm 2017, dựa trên một nguồn tin mật, gọi tắt là CHS, cho rằng Epstein “là người quản lý tài sản của nhà độc tài Vladimir Putin và đã cung cấp các dịch vụ tương tự cho Tổng thống Zimbabwe Robert Mugabe.”

Vào tháng 12, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Nga, Maria Zakharova, đã coi các tài liệu này là bằng chứng về tiêu chuẩn kép của phương Tây.

“Theo như tôi hiểu, ở đây toàn là những ‘giảng viên về cuộc sống’ phương Tây, những người coi thường nước Nga và thuyết giảng cho chúng tôi về ‘dân chủ và nhân quyền’ trong những tư thế thú vị cùng những người bạn đồng hành cũng thú vị không kém,” bà ta nói.

[Kyiv Post: Poland to Probe Whether Epstein Had Ties to Russian Intelligence, PM Tusk Says]

2. ‘Lực lượng quốc phòng Ukraine đã giành lại các vị trí ở Kupiansk’.

Ngày 3 tháng 2, dự án bản đồ mã nguồn mở DeepState của Ukraine cho biết, quân đội Ukraine đã giành lại các vị trí trong thành phố Kupiansk, tỉnh Kharkiv, nơi đang bị tấn công dữ dội.

Nga đã cố gắng tiến công trên toàn mặt trận bằng cách phát động các chiến dịch tấn công quy mô lớn trên nhiều trục, bao gồm cả khu vực Kupiansk, để giành lại thành phố mà họ đã mất trong cuộc phản công của Ukraine năm 2022.

Quân đội Nga đã cố gắng tiến sát Kupiansk từ phía bắc và phía đông, nhằm củng cố sự hiện diện của họ ở phía tây sông Oskil.

Ngày 20 tháng 11, Tổng tham mưu trưởng quân đội Nga, Valery Gerasimov, tuyên bố Nga đã chiếm được Kupiansk, một tuyên bố mà Quân đội Ukraine đã bác bỏ, sau đó vào ngày 12 tháng 12, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã ghi hình một video từ thành phố này.

DeepState cũng đưa tin lực lượng Nga đã tiến gần đến các thị trấn Udachne, Hryshyne và Pryvillia ở tỉnh Donetsk.

[Kyiv Independent: 'Ukraine's defense forces have regained positions in Kupiansk']

3. Cảnh sát Đức bắt giữ 2 người đàn ông bị tình nghi phá hoại tàu chiến.

Hôm thứ Ba, giới chức Đức đã bắt giữ hai người đàn ông bị cáo buộc âm mưu vô hiệu hóa các tàu chiến của Hải quân Đức, trong bối cảnh làn sóng các vụ phá hoại bị nghi ngờ lan rộng khắp Âu Châu kể từ khi Nga tiến hành cuộc xâm lược toàn diện Ukraine.

Văn phòng công tố Hamburg cho biết trong một tuyên bố rằng một công dân Rumani 37 tuổi và một công dân Hy Lạp 54 tuổi đã bị bắt giữ lần lượt tại Hamburg và một thị trấn ở miền bắc Hy Lạp. Các nhà chức trách cũng đã khám xét ba bất động sản ở Hamburg, Hy Lạp và Rumani.

Các công tố viên cho biết các nghi phạm làm việc tại Cảng Hamburg và đã thực hiện các hành vi phá hoại đối với một số tàu hộ vệ - loại tàu chiến nhỏ nhất - dành cho Hải quân Đức. Thiệt hại bao gồm đổ khoảng 20 kg cát vào động cơ, làm thủng đường ống nước, tháo nắp nhiên liệu và vô hiệu hóa các công tắc an toàn.

Giới chức Hamburg cho biết họ đang điều tra xem ai khác có thể đứng sau các vụ tấn công.

Hôm thứ Ba, Dân biểu Đức Roderich Kiesewetter, thuộc đảng Dân chủ Kitô giáo cầm quyền, nói với POLITICO: “Phương thức hoạt động và mục tiêu rõ ràng phù hợp với mô hình của Nga trong việc sử dụng các hành động phá hoại có chủ đích nhằm vào cơ sở hạ tầng quan trọng và có tầm ảnh hưởng quân sự để chuẩn bị cho các cuộc tấn công và gieo rắc khủng bố ở Đức thông qua các phương pháp hỗn hợp.”

Tuy nhiên, ông nói thêm: “Cần phải chờ xem liệu đánh giá này có áp dụng được trong trường hợp này hay không.”

Theo một nghiên cứu của hãng tin AP, Âu Châu đã phải hứng chịu ít nhất 145 vụ phá hoại kể từ khi Nga bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện Ukraine năm 2022. Các hành động này, thường không gây thương vong hay thiệt hại đáng kể, đã làm gián đoạn hoạt động của Âu Châu bằng cách khiến các cơ quan tình báo, cảnh sát và công tố phải bận rộn với các cuộc điều tra xuyên biên giới. AP đưa tin rằng trong một số trường hợp, Nga đã sử dụng những tên tội phạm thông thường để thực hiện các hành vi phá hoại nhỏ.

Tại Hy Lạp, các nhà chức trách cho biết lệnh bắt giữ công dân Hy Lạp đã được ban hành vào ngày 10 tháng 10 vì tội phá hoại thiết bị quốc phòng. Cơ quan tư pháp Liên Hiệp Âu Châu Eurojust cho biết nếu những hành vi này không bị phát hiện, chúng “sẽ gây thiệt hại lớn cho các tàu và làm chậm trễ việc khởi hành, gây nguy hiểm cho hoạt động của Hải quân Đức”.

Đức là nhà tài trợ lớn nhất của Liên Hiệp Âu Châu cho Ukraine kể từ khi Nga xâm lược vào tháng 2 năm 2022. Vào tháng 5 năm 2024, một vụ đốt phá đã nhắm vào một nhà máy sản xuất vũ khí ở Berlin; tờ Wall Street Journal sau đó đưa tin rằng các cá nhân có liên hệ với các nỗ lực phá hoại của Nga đứng sau vụ cháy.

Vào tháng 11 năm 2024, một máy bay chở hàng của DHL cất cánh từ Leipzig đã đâm vào một tòa nhà ở thủ đô Vilnius của Lithuania sau khi một kiện hàng phát nổ, khiến cơ trưởng thiệt mạng. Chính quyền Lithuania sau đó cho biết vụ việc do người Nga có liên hệ với tình báo dàn dựng.

[Politico: German police detain 2 men suspected of warship sabotage]

4. Tulsi Gabbard đưa ra phản hồi chính thức về các cáo buộc cách thức giải quyết các đơn tố cáo.

Giám đốc Tình báo Quốc gia, gọi tắt là DNI Tulsi Gabbard đã công khai phản hồi về những cáo buộc liên quan đến cách bà giải quyết đơn khiếu nại của người tố giác, gọi những cáo buộc này là “hoàn toàn sai sự thật và vu khống” trong một bức thư dài bốn trang gửi tới các ủy ban tình báo của Quốc hội.

Bức thư, được đăng tải trên X, trực tiếp đề cập đến sự hiện diện của bà trong quá trình thi hành lệnh khám xét của FBI tại Văn phòng Thư ký Tòa án Quận Fulton, Georgia, vào ngày 28 tháng Giêng, và bảo vệ thẩm quyền theo luật định của bà trong việc điều phối các hoạt động tình báo liên quan đến an ninh bầu cử.

Theo thông tin đầu tiên mà tờ Wall Street Journal đưa tin hôm thứ Hai, đơn khiếu nại được đệ trình vào tháng 5 được coi là tuyệt mật đến mức nó vẫn được cất giữ trong két sắt, các quan chức cảnh báo rằng việc tiết lộ nó có thể gây ra “thiệt hại nghiêm trọng cho an ninh quốc gia”.

Tranh cãi xoay quanh vai trò kép của Gabbard với tư cách là điều phối viên của 18 cơ quan tình báo quốc gia và nghĩa vụ của bà trong việc bảo vệ người tố giác đồng thời thông báo cho Quốc hội. Sự hiện diện của bà tại cuộc khám xét văn phòng bầu cử Georgia—một địa điểm trọng tâm trong các cáo buộc gian lận bầu cử năm 2020 gây tranh cãi của Tổng thống Trump—đã làm dấy lên những câu hỏi từ phía đảng Dân chủ về khả năng chính trị hóa các hoạt động tình báo.

Việc trì hoãn tám tháng trong việc chuyển đơn khiếu nại đến Quốc hội đã làm dấy lên những lo ngại về tính minh bạch, đặc biệt khi các khiếu nại nghiêm trọng liên quan đến các quan chức cao cấp trong chính quyền thường được báo cáo trong vòng vài tuần.

Theo Andrew Bakaj, luật sư đại diện cho người tố cáo, đơn khiếu nại về hành vi của Gabbard đã bị giấu kín khỏi Quốc hội trong tám tháng. Đơn khiếu nại đã được tổng thanh tra cộng đồng tình báo xem xét và đánh giá là không đáng tin cậy.

Người khiếu nại sau đó đã yêu cầu chuyển vụ việc cho các ủy ban tình báo của Quốc hội, theo luật liên bang cho phép, nhưng các quan chức am hiểu vấn đề này nói với tờ Journal rằng chính bà Gabbard đã cản trở quá trình này. Tài liệu mật cũng đề cập đến một cơ quan liên bang khác - vẫn chưa được xác định - và một số nội dung có thể thuộc diện đặc quyền hành pháp.

Trong thư gửi Thượng Nghị Sĩ đảng Dân chủ Mark Warner của Virginia—phó chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng viện—và Dân biểu đảng Dân chủ Jim Himes của Connecticut—thành viên cao cấp của Ủy ban Tình báo Hạ viện—bà Gabbard cho biết sự hiện diện của bà tại cuộc khám xét ở Quận Fulton là do Tổng thống Trump yêu cầu và được thực hiện theo thẩm quyền theo luật định của bà để phối hợp các hoạt động tình báo và phản tình báo liên quan đến an ninh bầu cử. Bà đã đi cùng Phó Giám đốc FBI Andrew Bailey và Đặc vụ phụ trách tạm thời của Atlanta, Pete Ellis, khi quan sát các nhân viên thực thi lệnh khám xét. Bà Gabbard nhấn mạnh rằng bà không đặt câu hỏi hay đưa ra chỉ thị nào trong suốt quá trình hoạt động.

Theo bức thư, Văn phòng Cố vấn Pháp luật của Giám đốc Tình báo Quốc gia, gọi tắt là DNI nhận thấy hành động của bà Gabbard “phù hợp và nằm trong phạm vi thẩm quyền theo luật định”. Bà Gabbard đã viện dẫn nhiều căn cứ pháp lý để chứng minh vai trò của mình, bao gồm Điều 102A của Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947, Điều 119C của cùng đạo luật đó, Điều 6508 của Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng năm 2020 và một số sắc lệnh hành pháp và chỉ thị chính sách của tổng thống quy định trách nhiệm của DNI đối với hoạt động tình báo an ninh bầu cử.

Olivia Coleman, thư ký báo chí của Gabbard, đã bác bỏ những tuyên bố về sự chậm trễ, nói rằng các chi tiết mật trong đơn khiếu nại đã khiến quá trình xem xét “khó khăn hơn đáng kể”. Coleman nhấn mạnh rằng tổng thanh tra, người đã kết luận đơn khiếu nại không đáng tin cậy, bắt đầu làm việc trong thời chính quyền Tổng thống Biden và không phải do Gabbard lựa chọn. Một quan chức DNI nói với Newsweek rằng bài báo của tờ Journal hoàn toàn sai sự thật, đồng thời cho biết thêm rằng vì đơn khiếu nại không được coi là đáng tin cậy nên không cần phải vội vàng báo cáo lên Quốc hội.

Bakaj, một cựu sĩ quan tình báo CIA từng đại diện cho người tố cáo vụ Ukraine trong vụ luận tội Tổng thống Trump đầu tiên, cho biết ông không thể tiết lộ danh tính thân chủ, cơ quan chủ quản của họ hoặc cung cấp thông tin cụ thể về các cáo buộc do tính chất nhạy cảm của công việc. Năm ngoái, có thông tin cho rằng Gabbard đã bổ nhiệm một trong những cố vấn hàng đầu của mình vào một vị trí trong Văn phòng Tổng thanh tra về các dịch vụ tình báo, dẫn đến những lo ngại về tính khách quan của văn phòng này.

[Newsweek: Tulsi Gabbard Issues Formal Response to Whistleblower Complaint Claims]

5. Tổng thư ký NATO cho biết các cuộc tấn công của Nga “không thể hiện sự nghiêm chỉnh” đối với hòa bình.

Trong chuyến thăm Kyiv hôm thứ Ba, ngày 3 tháng 2, Tổng thư ký NATO Mark Rutte cho biết các cuộc tấn công đêm qua của Nga vào Ukraine không cho thấy Mạc Tư Khoa thực sự nghiêm chỉnh trong việc theo đuổi hòa bình, trong bối cảnh Tòa Bạch Ốc đang thúc đẩy các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt giao tranh.

Tổng Thư Ký Rutte phát biểu trước Verkhovna Rada, cơ quan lập pháp của Ukraine rằng “Các cuộc đàm phán trực tiếp hiện đang diễn ra, và đây là một bước tiến quan trọng. Nhưng các cuộc tấn công của Nga như đêm qua không cho thấy sự nghiêm chỉnh về hòa bình”.

Hôm thứ Ba, Nga đã phát động cuộc tấn công mà các quan chức Ukraine mô tả là “mạnh mẽ nhất” trong năm nay nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Ukraine, khiến hàng trăm ngàn người không có hệ thống sưởi ấm trước vòng đàm phán mới tại Abu Dhabi.

Tổng thư ký Rutte cho biết ông đang kêu gọi các quốc gia thành viên NATO “khai thác triệt để kho dự trữ của mình” để cung cấp cho Ukraine thêm các hệ thống phòng không nhằm đẩy lùi các cuộc tấn công liên tục của Nga.

Tổng thư ký NATO cũng cho biết trọng tâm của liên minh trong việc hỗ trợ Ukraine không bị chệch hướng bất chấp căng thẳng giữa Washington và các đồng minh về những yêu cầu của chính quyền Tổng thống Trump liên quan đến Greenland.

Tổng thư ký Rutte nói thêm rằng các thành viên NATO Âu Châu sẵn sàng cung cấp các bảo đảm an ninh mạnh mẽ và triển khai quân đội đến Ukraine để bảo đảm bất kỳ lệnh ngừng bắn nào trong tương lai cũng sẽ được duy trì.

“Các bảo đảm an ninh rất vững chắc, và điều này rất quan trọng,” ông nói. “Việc đạt được thỏa thuận chấm dứt cuộc chiến này sẽ đòi hỏi những lựa chọn khó khăn.”

Tổng thư ký Rutte nói thêm: “Ukraine cần phải biết chắc chắn rằng bất kể những hy sinh nào đã được thực hiện, những sinh mạng đã mất và sự tàn phá đã phải gánh chịu sẽ không có nguy cơ lặp lại.”

Tổng thư ký Rutte đã có chuyến thăm bất ngờ tới Kyiv hôm thứ Ba, chỉ vài giờ sau khi Nga tiến hành một trong những cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn lớn nhất từ đầu năm đến nay.

Tổng thư ký Rutte và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy đã đặt hoa tại đài tưởng niệm ở trung tâm Kyiv để tưởng nhớ những binh sĩ thiệt mạng trong cuộc xâm lược của Nga.

Sau đó, Rutte phát biểu trước Verkhovna Rada, nơi ông thừa nhận rằng con đường chấm dứt chiến tranh sẽ đòi hỏi “những quyết định khó khăn và đau đớn”, nhưng nhấn mạnh rằng Ukraine phải tin tưởng rằng những hy sinh đã được thực hiện cho đến nay không phải là vô ích.

[Kyiv Post: Russian Attacks ‘Don’t Signal Seriousness’ on Peace, NATO Chief Says]

6. Tổng lãnh đạo NATO tin tưởng các đồng minh sẽ cam kết chi 15 tỷ đô la vũ khí của Mỹ cho Ukraine vào năm 2026.

Ngày 3 tháng 2, Tổng thư ký NATO Mark Rutte cho biết ông tin tưởng các đồng minh sẽ phân bổ 15 tỷ đô la trong năm nay theo Danh sách các nhu cầu ưu tiên của Ukraine, gọi tắt là PURL.

“Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng số tiền đó sẽ có,” ông Rutte nói trong một cuộc họp báo cùng với Tổng thống Volodymyr Zelenskiy ở Kyiv khi được hỏi về số tiền mà Ukraine yêu cầu.

Theo sáng kiến này, Kyiv dự kiến sẽ nhận được khoảng 4-5 tỷ đô la vào cuối năm 2025, cho phép các nước thành viên NATO mua hệ thống phòng không, đạn dược và các trang thiết bị khác cho Ukraine từ Mỹ.

Ông Rutte nói: “Tôi biết rằng cần thêm nhiều thứ nữa một cách khẩn cấp”, đồng thời kêu gọi các đồng minh “hết nguồn dự trữ của mình để cung cấp bất cứ thứ gì có thể nhằm đáp ứng nhu cầu của Ukraine, đặc biệt là phòng không”.

Tổng thư ký NATO nhấn mạnh rằng hiện nay hai phần ba các nước đồng minh NATO đang tham gia sáng kiến này. Ông cũng kêu gọi chia sẻ gánh nặng một cách công bằng hơn, đồng thời nhấn mạnh những đóng góp từ các quốc gia Bắc Âu, các nước Baltic, Hòa Lan, Canada và Đức.

[Kyiv Independent: NATO chief confident allies will commit $15 billion in US arms for Ukraine in 2026]

7. Chủ tịch Nghị viện Liên Hiệp Âu Châu kêu gọi “trừ tà” những “bóng ma” trong quan hệ với Anh.

Lãnh đạo phe đa số của Liên Hiệp Âu Châu cho biết, Liên Hiệp Âu Châu và Anh phải vượt qua những bất đồng lịch sử và “thiết lập lại” mối quan hệ để có thể hợp tác trong một thế giới ngày càng bất ổn.

Chủ tịch Nghị viện Âu Châu Roberta Metsola đã có bài phát biểu trước Thượng viện Tây Ban Nha hôm thứ Ba để kêu gọi thắt chặt quan hệ với Vương quốc Anh khi Luân Đôn tăng cường nỗ lực nhằm bảo đảm tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường Âu Châu và các dự án tài trợ, sau khi nước này bỏ phiếu rời khỏi khối vào năm 2016.

“Mười năm sau Brexit… và trong một thế giới đã thay đổi sâu sắc như vậy, Âu Châu và Vương quốc Anh cần một cách thức hợp tác mới trong thương mại, hải quan, nghiên cứu, di chuyển cũng như an ninh và quốc phòng,” Metsola nói. “Đã đến lúc phải xua đuổi những bóng ma của quá khứ.”

Bà Metsola kêu gọi “thiết lập lại” mối quan hệ đối tác giữa Anh và Liên Hiệp Âu Châu như một phần của chính sách “thực dụng dựa trên các giá trị sẽ giúp tất cả chúng ta cùng tiến lên phía trước”.

Bài phát biểu của bà được đưa ra sau khi Thủ tướng Anh Keir Starmer tuyên bố ông dự định sẽ cố gắng bảo đảm các ngành công nghiệp quốc phòng của nước này có thể hưởng lợi từ chương trình SAFE hàng đầu của Liên Hiệp Âu Châu - một chương trình tài trợ trị giá 150 tỷ euro được thiết kế để thúc đẩy việc mua sắm trang thiết bị quân sự.

Quá trình thúc đẩy này không hề suôn sẻ, với cuộc họp của các chính phủ Liên Hiệp Âu Châu vào tối thứ Hai đã không thông qua được việc cho phép Anh tham gia chương trình SAFE, mặc dù Pháp - quốc gia luôn phản đối việc các nước không thuộc Liên Hiệp Âu Châu tham gia - lại ủng hộ việc Anh được đưa vào chương trình.

Những ngày gần đây, ông Starmer cũng đã phát tín hiệu rằng ông đang tìm cách hội nhập sâu hơn với thị trường chung của Liên Hiệp Âu Châu. Cho đến nay, Brussels vẫn còn do dự trong việc mở lại các điều khoản quan hệ của Anh với khối này chỉ sáu năm sau khi nước này rời đi.

Mặc dù những quyết định đó thuộc về 27 quốc gia thành viên Liên Hiệp Âu Châu còn lại, chứ không phải Nghị viện, nhưng sự can thiệp của Metsola đánh dấu một sự thay đổi về giọng điệu, điều có thể củng cố lập trường của Anh trong việc thúc đẩy quan hệ gần gũi hơn. Trong bối cảnh quan hệ ngày càng căng thẳng với Mỹ, các thủ đô đang phụ thuộc vào sự hợp tác với năng lực tình báo và quân sự của Anh cũng như trong các ngành công nghiệp trọng điểm.

Metsola cho biết Âu Châu phải thực hiện “những bước tiếp theo hướng tới một nền quốc phòng Âu Châu mạnh mẽ hơn, tăng cường năng lực và hợp tác, đồng thời làm việc chặt chẽ với các đồng minh NATO để Âu Châu có thể bảo vệ người dân của mình tốt hơn”.

[Politico: EU parliament chief calls for ‘exorcism’ of ghosts in UK ties]

8. Putin cho biết tăng trưởng kinh tế của Nga đã chậm lại còn 1% vào năm 2025.

Nhà độc tài Vladimir Putin hôm thứ Ba cho biết nền kinh tế Nga chỉ tăng trưởng 1% trong năm 2025, đánh dấu tốc độ tăng trưởng chậm hơn nhiều so với năm 2024 do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Ukraine.

Việc chi tiêu khổng lồ cho quân đội tham chiến ở Ukraine ban đầu đã thúc đẩy tăng trưởng và giúp Mạc Tư Khoa bác bỏ những dự đoán về sự sụp đổ kinh tế sau khi phát động cuộc tấn công vào năm 2022.

Tuy nhiên, việc gia tăng chi tiêu đã đẩy lạm phát lên cao, gây áp lực lên tăng trưởng thực tế, trong khi các doanh nghiệp phản đối mạnh mẽ chi phí vay vốn cao được áp dụng để kiềm chế sự tăng giá.

“GDP của Nga tăng trưởng 1% vào năm ngoái. Con số này thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng trước đó, như chúng ta đều biết: năm 2023 và 2024, tăng trưởng lần lượt là 4,1% và 4,3%”, Putin phát biểu tại một cuộc họp chính phủ.

“Nhưng chúng ta cũng biết rằng sự suy giảm này không chỉ đơn thuần là điều được dự đoán trước, thậm chí có thể nói là do con người tạo ra: nó có liên quan đến các biện pháp có mục tiêu nhằm giảm lạm phát”, Putin nói thêm.

Nhà độc tài cho biết lạm phát “đã giảm xuống còn 5,6%” vào năm ngoái, so với 9,5% của năm trước đó.

Vào tháng 12, ngân hàng trung ương Nga đã cắt giảm lãi suất chuẩn xuống 16% khi lạm phát có dấu hiệu chậm lại.

Tuy nhiên, cơ quan thống kê nhà nước Rosstat năm ngoái cho biết họ dự kiến lạm phát hàng năm sẽ chỉ giảm xuống mức mục tiêu 4% vào năm 2027.

“Nhiệm vụ rất rõ ràng: chúng ta cần khôi phục tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong nước, cải thiện môi trường kinh doanh và tăng cường hoạt động đầu tư, tập trung vào việc nâng cao năng suất lao động”, Putin nói hôm thứ Ba.

“Tôi không cần phải nói với các bạn về mức độ nghiêm trọng của khả năng ngày càng cao rằng các cơ quan tình báo Nga đã đồng tổ chức chiến dịch này đối với an ninh quốc gia Ba Lan”, Putin nói.

Đầu tháng này, Mạc Tư Khoa đã công bố thông tin ngân sách cho thấy doanh thu từ dầu khí, nguồn thu quan trọng đối với ngân sách nhà nước, đã giảm xuống mức thấp nhất trong 5 năm.

Ngành dầu khí và nhiều doanh nghiệp của nước này đã phải chịu nhiều lệnh trừng phạt từ Âu Châu và Mỹ kể từ khi Mạc Tư Khoa đưa quân vào Ukraine năm 2022.

[Kyiv Post: Russia’s Economic Growth Slowed to 1% in 2025, Putin Says]

9. Trong cuộc tấn công hỏa tiễn lớn nhất mùa đông, Nga tấn công vào các nhà máy điện của Ukraine giữa thời tiết giá rét khắc nghiệt.

Vào đêm 3 tháng 2, lực lượng Nga đã phát động một cuộc tấn công quy mô lớn bằng hỏa tiễn đạn đạo và máy bay điều khiển từ xa vào Ukraine, đây là cuộc tấn công lớn nhất trong mùa đông này và liên quan đến số lượng hỏa tiễn được phóng nhiều nhất trong một cuộc tấn công duy nhất trong mùa này.

Các cuộc tấn công diễn ra trong bối cảnh một cuộc tấn công lớn hơn nhằm vào các thành phố của Ukraine, bao gồm cả những thành phố nằm cách tiền tuyến hàng trăm km, với hàng chục hỏa tiễn và hàng trăm máy bay điều khiển từ xa được báo cáo xuất hiện trên bầu trời đêm của Ukraine.

Cuộc tấn công mới nhất của Nga báo hiệu sự kết thúc của thỏa thuận ngừng bắn ngắn hạn về năng lượng, theo đó Mạc Tư Khoa đã đồng ý tạm thời đình chỉ các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng quan trọng của Ukraine. Các cuộc tấn công nối lại vào thủ đô diễn ra vài ngày sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố vào ngày 29 Tháng Giêng rằng ông đã đích thân yêu cầu Putin kiềm chế tấn công Kyiv.

Trước đó, Điện Cẩm Linh cho biết sẽ tạm dừng các cuộc tấn công vào các cơ sở năng lượng, nhưng chỉ đến ngày 1 tháng 2.

[Kyiv Independent: In largest missile attack of winter, Russia targets Ukraine's power plants amid brutal freeze]

10. Trung Quốc nổi giận trước việc trao giải Grammy cho Đức Dalai Lama

Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã kịch liệt phản đối sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma được trao giải Grammy cho sách nói hay nhất, cáo buộc lễ trao giải Grammy lần thứ 68 sử dụng giải thưởng này cho “mưu đồ chính trị chống Trung Quốc”.

Đức Đạt Lai Lạt Ma, 90 tuổi, nổi tiếng là người ủng hộ giải pháp bất bạo động cho vấn đề Tây Tạng và thường xuyên khiến Bắc Kinh tức giận vì những lời chỉ trích đối với sự kiểm soát nghiêm ngặt của Trung Quốc trong khu vực, mà ông và các nhà hoạt động Tây Tạng cho rằng đó là hành vi diệt chủng văn hóa.

Vị lãnh đạo tinh thần Phật giáo Tây Tạng đã được trao giải Grammy cho hạng mục Sách nói, Lời dẫn chuyện và Bản ghi âm kể chuyện hay nhất với tác phẩm “Thiền định: Những suy ngẫm của Đức Đạt Lai Lạt Ma”, một tuyển tập gồm 10 bài suy ngẫm về các chủ đề từ tầm quan trọng của cộng đồng đến biến đổi khí hậu. “Trí tuệ của Ngài là cốt lõi của tác phẩm này”, ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Canada-Mỹ Rufus Wainwright, người nhận giải thay mặt Đức Đạt Lai Lạt Ma, cho biết.

Hôm Thứ Ba, 03 Tháng Hai, Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Mao Ninh cho biết Trung Quốc kiên quyết phản đối ban tổ chức giải Grammy vì đã lợi dụng giải thưởng này để thúc đẩy “các thủ đoạn chính trị chống Trung Quốc”.

“Như mọi người đều biết, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 không phải là một nhân vật thuần túy tôn giáo. Thay vào đó, ông là một người lưu vong chính trị cam kết thực hiện các hoạt động ly khai chống Trung Quốc dưới vỏ bọc tôn giáo”, Mao Ninh nói.

Vấn đề Tây Tạng và phản hồi của ông Lin đã bị lược bỏ trong bản tóm tắt cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao.

Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc đã sáp nhập Tây Tạng, khi đó là một quốc gia tự trị trên thực tế, vào đầu những năm 1950. Các quan chức Trung Quốc mô tả việc sáp nhập này là một “cuộc giải phóng hòa bình” khỏi chính phủ thần quyền của họ. Đức Đạt Lai Lạt Ma giữ vai trò lãnh đạo tinh thần và chính trị của Tây Tạng từ năm 1940 đến năm 1959, khi ông phải sống lưu vong ở Ấn Độ sau cuộc đàn áp đẫm máu của Trung Quốc đối với cuộc nổi dậy ở thủ đô Lhasa.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tuyên bố trên trang web của mình: “Tôi đón nhận sự ghi nhận này với lòng biết ơn và sự khiêm nhường. Tôi không coi đó là điều gì đó mang tính cá nhân, mà là sự ghi nhận về trách nhiệm chung toàn cầu của chúng ta.”

“Tôi thực sự tin rằng hòa bình, lòng trắc ẩn, sự quan tâm đến môi trường và sự thấu hiểu về tính thống nhất của nhân loại là điều thiết yếu cho hạnh phúc chung của tất cả 8 tỷ người trên thế giới. Tôi rất biết ơn vì giải thưởng Grammy này có thể giúp lan tỏa những thông điệp này rộng rãi hơn.”

Trung Quốc tuyên bố sẽ chọn người kế vị Đức Đạt Lai Lạt Ma sau khi ngài qua đời, bỏ qua quy trình truyền thống của Tây Tạng trong việc xác định người tái sinh. Kế hoạch này bị nhiều quốc gia phản đối, trong đó có Hoa Kỳ, vì cho rằng đó là sự can thiệp vào các vấn đề tôn giáo và văn hóa của Tây Tạng.

[Newsweek: China Lashes Out at Dalai Lama’s Grammy Award]

11. Trung Quốc tuyên án tù chung thân đối với cựu bộ trưởng tham nhũng.

Cựu Bộ trưởng Tư pháp Trung Quốc Đường Nhất Quân (Tang Yijun, 唐一君)đã bị kết án tù chung thân vào hôm Thứ Ba, 03 Tháng Hai, trở thành quan chức cao cấp mới nhất bị vướng vào chiến dịch chống tham nhũng kéo dài của Chủ tịch Tập Cận Bình.

Phán quyết được đưa ra chỉ hơn một tuần sau khi hai quan chức quân sự cao cấp của Trung Quốc—Tham mưu trưởng Liên quân Lưu Chấn Lợi và Tướng Trương Du Hạ—bị điều tra về tội tham nhũng và các tội danh chính trị nghiêm trọng, làm dấy lên những đồn đoán mới về nền chính trị nội bộ mờ ám của Trung Quốc.

Tháng 9 năm 2022, người tiền nhiệm của Đường, là Phù Tăng Hoa, đã bị kết án tử hình vì tội nhận hối lộ, sau đó được giảm xuống tù chung thân. Năm 2017, một cựu bộ trưởng tư pháp khác, Ngô Ái Anh, bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc vì “vấn đề kỷ luật nghiêm trọng”—một cách nói giảm nhẹ thường được đảng sử dụng để chỉ tham nhũng.

Từ lâu, các vụ án tham nhũng đã được xem là cách để ông Tập Cận Bình thanh trừng các quan chức bên ngoài vòng thân cận của mình trong khi củng cố quyền lực.

Theo trang tin Nhân dân Tòa án (do nhà nước điều hành), Đường Nhất Quân đã hỗ trợ các hoạt động mua lại đất đai, niêm yết cổ phiếu và các vụ kiện tư pháp để đổi lấy tiền hối lộ tổng cộng hơn 137 triệu nhân dân tệ (19,7 triệu đô la Mỹ) trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2022 khi đang nắm giữ nhiều chức vụ trong chính phủ. Tòa án Nhân dân Trung cấp Hạ Môn cho biết trong phiên tuyên án rằng, trong thời gian này, Đường Nhất Quân đã hỗ trợ các hoạt động mua lại đất đai, niêm yết cổ phiếu và các vụ kiện tư pháp để đổi lấy tiền hối lộ tổng cộng hơn 137 triệu nhân dân tệ (19,7 triệu đô la Mỹ) khi đang nắm giữ nhiều chức vụ trong chính phủ.

Tòa án cho biết, tội ác của Đường Nhất Quân đặc biệt nghiêm trọng vì chúng đã gây tổn hại lớn đến lợi ích quốc gia và công cộng.

Ông Đường Nhất Quân giữ chức Bộ trưởng Tư pháp từ tháng 4 năm 2020 đến tháng 2 năm 2023. Việc ông không giành được ghế trong Ủy ban Trung ương, cơ quan ra quyết định hàng đầu của Đảng Cộng sản, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 20 năm 2022 là điều hiếm thấy đối với một bộ trưởng đương nhiệm và được nhiều nhà phân tích xem là dấu hiệu ban đầu cho thấy ông đang bị giám sát chặt chẽ hơn.

Ông bị điều tra vào tháng 4 năm 2024 vì những vi phạm nghiêm trọng về kỷ luật và pháp luật, và bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản vào cuối năm đó.

Trước đó, ông từng giữ chức thống đốc tỉnh Liêu Ninh và dành hơn ba thập niên sự nghiệp chính trị của mình ở Chiết Giang, tỉnh phía đông nơi ông Tập Cận Bình giữ chức bí thư Đảng Cộng sản từ năm 2002 đến năm 2007. Tuy nhiên, ông Đường không được xem là đồng minh thân cận của nhà lãnh đạo Trung Quốc.

[Newsweek: China Sentences Corrupt Ex-Minister to Life in Prison]

12. Thị trưởng Kyiv cho biết, khoảng 80 tòa nhà ở Kyiv vẫn chưa có hệ thống sưởi ấm.

Khoảng 80 tòa nhà vẫn không có hệ thống sưởi ấm sau sự việc mất điện trên quy mô lớn ở lưới điện Ukraine vào ngày 31 tháng Giêng, Thị trưởng Kyiv Vitali Klitschko báo cáo vào tối ngày 2 tháng 2.

Ông Klitschko cho biết ban đầu hơn 3.400 tòa nhà bị mất điện trên quy mô lớn sau sự việc mất điện quy mô lớn, mà theo nhà chức trách là do trục trặc kỹ thuật dẫn đến việc ngừng hoạt động hai đường dây điện cao thế trong điều kiện nhiệt độ đóng băng. Nhà chức trách vẫn chưa đưa ra thông tin chính xác về nguyên nhân của sự việc.

Nga đã tăng cường chiến dịch tấn công năng lượng vào tháng Giêng, tấn công vào cơ sở hạ tầng trọng yếu của Ukraine bằng các đợt tấn công hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa, nhằm làm suy yếu tinh thần người dân Ukraine trong bối cảnh nhiệt độ đóng băng. Trước đó cùng ngày, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết hơn 200 tòa nhà ở Kyiv vẫn chưa có hệ thống sưởi ấm.

Ông Klitschko cho biết của mình: “Các công nhân ngành điện và năng lượng đang làm việc suốt ngày đêm để kết nối các tòa nhà với hệ thống cung cấp nhiệt.”

[Kyiv Independent: About 80 buildings remain without heating in Kyiv, mayor says]

13. Đan Mạch và Thụy Điển sẽ giúp Kyiv ‘phát triển một tiểu đoàn phòng không’

Ngày 3 tháng 2, Đan Mạch và Thụy Điển tuyên bố sẽ mua và cung cấp cho Ukraine thêm các hệ thống phòng không để đối phó với chiến dịch ném bom mùa đông tàn khốc của Nga.

Phát biểu chung tại một cuộc họp báo, các bộ trưởng quốc phòng của hai nước cho biết viện trợ quân sự sẽ lên tới 290 triệu đô la và được chi cho hệ thống phòng không Tridon do BAE Systems Bofors phát triển.

Tridon là một loại pháo phòng không tự hành, điều khiển từ xa, cỡ nòng 40 ly, mà nhà sản xuất cho biết có thể chống lại “máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn hành trình, cho đến máy bay và xe thiết giáp”.

“Điều này có nghĩa là Ukraine có thể phát triển một tiểu đoàn phòng không nếu họ muốn”, Bộ trưởng Quốc phòng Thụy Điển Pal Jonson cho biết.

“Việc mua sắm này không chỉ hỗ trợ Ukraine trên chiến trường bằng nhiều thiết bị hơn mà còn tăng cường năng lực sản xuất của chúng tôi tại Thụy Điển.”

Tình trạng thiếu hụt hỏa tiễn phòng không đã khiến một số hệ thống phòng không của Ukraine đôi khi bị bỏ trống trong bối cảnh nguy cơ bị Nga tấn công tiếp theo, Yurii Ihnat, nhà lãnh đạo bộ phận truyền thông của Không quân, cho biết trong một cuộc phỏng vấn với RBC Ukraine được đăng tải vào ngày 2 tháng 2.

Khi mùa đông đến, Nga đã tăng cường các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Ukraine nhằm mục đích gây ra tình trạng mất điện trên toàn quốc. Trong khi đó, lực lượng phòng không Ukraine thiếu nguồn lực cần thiết để đánh chặn tất cả hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa của Nga.

Ông Ihnat cho biết chính quyền Ukraine, bao gồm cả Tổng thống Volodymyr Zelenskiy, đã nhiều lần nhấn mạnh tình trạng thiếu hỏa tiễn cho các hệ thống phòng không, lưu ý rằng một số hệ thống đã cạn kiệt và không sẵn sàng để đẩy lùi các cuộc tấn công của Nga.

“Thực tế, trước một cuộc tấn công như vậy, chúng tôi đã được cung cấp các phương tiện cần thiết trước đó một ngày,” Ihnat nói. “Lực lượng Ukraine đã đẩy lùi cuộc tấn công quy mô lớn đó khá thành công, nhờ vào hỏa tiễn dành cho máy bay F-16, NASAMS, IRIS-T và Patriot.”

“Đã có những thời điểm nguồn cung hỏa tiễn này khan hiếm nghiêm trọng. Tôi sẽ không tiết lộ bí mật nào. Ví dụ, có hệ thống NASAMS, nhưng thay vì sáu hỏa tiễn trong bệ phóng, chỉ có hai.”

[Kyiv Independent: Denmark, Sweden to help Kyiv 'develop an air defense battalion']