Ngày 18-06-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
00:41 18/06/2026
Chương 25:

THẬP GIÁ



“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.”

(Lc 9, 23)


1. Nếu con cam tâm vác thập giá thì thập giá có thể nâng đỡ con, khiến cho con hy vọng đi đến nơi miến đất phúc lành, ở đó sẽ không có đau khổ.

(sách Gương Chúa Giê-su)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")


-----------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
00:49 18/06/2026
54. CÒN SAY CHÚT XÍU

Có một thầy giáo đi dạy tư, học trò hỏi:

- “Đại học chi đạo” là gì?”

Thầy giáo làm bộ như người say rượu trách mắng học trò:

- “Mày cứ đợi khi ta say rồi mới hỏi”.

Sau khi tan học, thầy giáo đem chuyện ấy về nói với vợ, vợ cười nói:

- “Đại học” là tên quyển sách, “chi đạo” là đạo lý ở trong sách”.

Ngày thứ hai ông ta nói với học sinh:

- “Mày đúng là bất trí, ta say thì lại đến hỏi, hôm nay ta tỉnh rượu vẫn không lại hỏi, tại sao? Hôm qua mày hỏi gì?”

Học sinh đáp:

- ”Đại học chi đạo”

Thầy chỉ nói ra những lời của vợ.

Học sinh lại hỏi:

- “Tại minh minh đức” nghĩa là gì?”

Thầy giáo vội vàng vỗ vỗ trán nói:

- “Từ từ, ta vẫn còn say chút xíu, đầu óc không rõ ràng lắm”.

(Tiếu lâm quảng ký)

Suy tư 54:

Có nhiều người tức tối với người khác nhưng nói không được, thế là mượn rượu say say tỉnh tỉnh để nói, để chửi người khác; có người muốn quên đi cái hiện tại đau khổ của mình, thế là đi uống rượu, say say tỉnh tỉnh quên mất hiện tại và quên mất mình là ai.

Có một vài người Ki-tô hữu hễ nghe ai nhắc đến chuyện đạo đức lễ lạt nhà thờ thi say say tỉnh tỉnh, làm như mình từ cung trăng rơi xuống, hết làm bộ tặc lưỡi: ủa hôm nay là chúa nhật à; ủa, hôm nay nhà thờ có tĩnh tâm à; ủa, cha sở có dặn như thế sao.v.v… và ủa rồi đến ủa, họ làm như mình đang say và tiếc rẻ vì không được đi tham dự thánh lễ, nhưng thực ra họ đều biết rất rõ ngày chúa nhật.

Say tỉnh là trạng thái của người nghiện rượu, làm bộ tặc lưỡi tiếc rẻ “ủa, ủa…” là biến thái của người đang đi xa dần chính đạo, say say tỉnh tỉnh như con thuyền tròng trành trong biển cả cuộc đời xa dần hải đăng của mình là Đức Chúa Giê-su Ki-tô.

Thật tội nghiệp cho họ !

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)


---------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Hồng Y Ruini, chiến lược gia trưởng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tại Ý, qua đời ở tuổi 95.
J.B. Đặng Minh An dịch
03:50 18/06/2026

Đức Hồng Y Camillo Ruini, nguyên Tổng Đại Diện của giáo phận Rôma, nguyên Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ý trong 2 thập niên đã được Chúa gọi về hôm Thứ Ba, 16 Tháng Sáu. Edward Pentin của National Catholic Register có bài nhận định nhan đề “Cardinal Ruini, John Paul II’s Chief Strategist in Italy, Dies at Age 95”, nghĩa là “Hồng Y Ruini, chiến lược gia trưởng của Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại Ý, qua đời ở tuổi 95.”.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Đức Hồng Y Camillo Ruini, một chiến lược gia tài ba của Giáo hội tại Ý dưới thời Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II và là kiến trúc sư chủ chốt trong sự tham gia của Giáo hội vào chính trị và văn hóa thời hậu Chiến tranh Lạnh, đã qua đời hôm Thứ Ba, 16 Tháng Sáu, tại Rôma.

Với tư cách là nhà lãnh đạo hội đồng giám mục Ý và là tổng đại diện của Rôma trong những thập niên 1990 và 2000, vị Hồng Y thường có những lập trường mạnh mẽ và có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề xã hội và đạo đức, điều này đã tạo cho ngài danh tiếng trong việc góp phần định hình dư luận giáo hội và chính trị.

Về mặt cá nhân, ngài lịch sự, kín đáo và thậm chí có phần nhút nhát, nhưng ngài cũng rất sắc sảo về trí tuệ, khôn ngoan về chính trị và rất kiên quyết trong các vấn đề nguyên tắc, đặc biệt là khi liên quan đến các vấn đề “không thể thỏa hiệp” như quyền sống, hôn nhân và gia đình. Ngài thường chỉ trích gay gắt các ý tưởng hơn là cá nhân, trong khi vẫn giữ thái độ lịch sự và tôn trọng đối với những người bất đồng chính kiến.

Tất cả những điều này đã biến ngài trở thành cộng sự đáng tin cậy của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II — và sau này là của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 — khi ngài cống hiến hết mình để giữ cho Giáo Hội Công Giáo ở Ý có tầm ảnh hưởng trong thời điểm chủ nghĩa thế tục ngày càng chiếm ưu thế trong chính trị và xã hội của quốc gia.

Kỹ năng và sự khéo léo của ngài thể hiện rõ nhất vào năm 2004 khi ngài kêu gọi người Công Giáo Ý tẩy chay cuộc trưng cầu dân ý ủng hộ việc nới lỏng các quy định pháp luật của Ý về thụ tinh trong ống nghiệm, gọi tắt là IVF. Cuộc bỏ phiếu năm sau đó đã thất bại do tỷ lệ tham gia thấp, và trong khi những người theo chủ nghĩa thế tục cáo buộc Hồng Y Ruini đã vượt quá giới hạn của một giáo sĩ, những người khác lại ca ngợi chiến lược và quyết tâm lên tiếng của ngài. Một số người trìu mến đặt cho ngài biệt danh “rovini”, có nghĩa là “kẻ phá hoại” kế hoạch của những người theo chủ nghĩa thế tục.

Một năm sau, vị Hồng Y đã gây phẫn nộ cho “nhóm vận động quyền lợi người đồng tính” khi cảnh báo rằng việc công nhận hợp pháp hoàn toàn cho các cặp chưa kết hôn sẽ là “sự lu mờ bản chất và giá trị của gia đình và là một tổn hại nghiêm trọng đối với người dân Ý”. Năm 2007, ngài là người chủ trì và truyền cảm hứng cho một cuộc biểu tình lớn nhân Ngày Gia đình ở Rôma, nhằm ngăn chặn luật hôn nhân dân sự do chính phủ của Romano Prodi thúc đẩy. Ngài cũng lên tiếng trong một số vụ án nổi tiếng liên quan đến “quyền được chết”, luôn luôn bảo vệ sự thánh thiêng của cuộc sống con người.

Cũng nổi tiếng với quan điểm về mối quan hệ giữa đức tin và chính trị, Đức Hồng Y Ruini thường xuyên đề cập đến các vấn đề như chủ nghĩa thế tục, một “chủ nghĩa thế tục lành mạnh” liên quan đến Hồi giáo, và điều mà ngài coi là “xu hướng duy vật của con người hiện đại”, mà ngài xem là mối đe dọa đáng kể đối với đức tin tôn giáo.

Tại Ý, ngài đặc biệt nổi tiếng với vai trò là kiến trúc sư và chủ tịch lâu năm của “dự án văn hóa” của Giáo hội, được hình thành sau sự sụp đổ của kỷ nguyên Dân chủ Kitô giáo đã thống trị nền chính trị Ý thời hậu chiến. Dự án này nhằm mục đích chuyển hướng ảnh hưởng của Giáo Hội Công Giáo từ chính trị đảng phái sang công việc sâu sắc hơn là định hình văn hóa quốc gia và tranh luận công khai.

Sứ mệnh truyền giáo

Cả Đức Hồng Y và Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đều hợp tác tốt với nhau, mang lại sự mạch lạc mới cho sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội và xây dựng một khuôn khổ liên quan đến các thông điệp của Đức Gioan Phaolô II. Nhưng lập trường của ngài cũng vấp phải sự phản đối trong Giáo hội, đặc biệt là từ các đồng minh của Hồng Y Dòng Tên Carlo Maria Martini, cựu Tổng Giám Mục Milan, người tin rằng ngài đang từ bỏ “tinh thần của Công đồng”.

“Đức Hồng Y Ruini xứng đáng được ghi nhận vì đã chèo lái con thuyền vượt qua cơn bão, vì đã chia sẻ tầm nhìn của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và vì đã đấu tranh để thực hiện tầm nhìn đó ở đất nước chúng ta,” nhà bình luận người Ý, Giáo sư Stefano Fontana, viết trên tờ La Nuova Bussola Quotidiana ngày 17 tháng 6.

Sinh ra tại Sassuolo, tỉnh Modena, vào ngày 19 tháng 2 năm 1931, Camillo Ruini là con trai của một bác sĩ địa phương. Trong thời gian đi học và cuối tuổi thiếu niên, ngài đã nhận ra ơn gọi làm linh mục. Năm 18 tuổi, ngài vào chủng viện, sau đó tiếp tục học triết học và thần học tại Reggio Emilia và sau đó tại Đại học Giáo hoàng Grêgôriô ở Rôma.

Được thụ phong linh mục vào ngày 8 tháng 12 năm 1954, Ruini trở về quê hương Reggio Emilia ba năm sau đó, nơi ngài dành gần hai thập niên đào tạo các linh mục trẻ với tư cách là cha giáo môn triết học tại chủng viện giáo phận trước khi trở thành một giáo sư được kính trọng rộng rãi và sau đó là nhà lãnh đạo các viện thần học liên giáo phận và học thuật ở Modena và Bologna. Song song với việc giảng dạy, ngài dốc sức vào các hoạt động tông đồ giáo dân, phục vụ với tư cách là tuyên úy cho các sinh viên tốt nghiệp đại học Công Giáo, đại diện giáo phận cho Phong trào Công Giáo Tiến hành, và chủ tịch Trung tâm Văn hóa Gioan XXIII — những công việc đã mài giũa bản năng trí tuệ và mục vụ mà sau này ngài mang đến sân khấu quốc gia.

Được bổ nhiệm làm Giám Mục Phụ Tá của Reggio Emilia-Guastalla năm 1983, ngài nhanh chóng nổi lên như một người tổ chức chủ chốt của hội nghị giáo phận Loreto năm 1985, một nỗ lực mang tính bước ngoặt nhằm thiết lập lại mối quan hệ giữa Giáo hội và xã hội Ý sau những biến động chính trị và giáo hội của những năm 1960 và 1970. Năm 1985, ngài tham gia ủy ban giám mục về giáo dục, văn hóa và trường học Công Giáo.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phong ngài làm Hồng Y vào năm 1991, sau đó ngài bước vào giai đoạn quyết định trong sự nghiệp giám mục của mình với tư cách là chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý (1991–2007) và tổng đại diện Giáo phận Rôma (1991–2008). Là thành viên của một số cơ quan thuộc Tòa Thánh và là tác giả của nhiều bài luận và công trình nghiên cứu, ngài cũng từng giữ chức hiệu trưởng Đại học Giáo hoàng Latêranô. Ngài đóng vai trò quan trọng trong Cơ Mật Viện Hồng Y năm 2005 bầu chọn Đức Bênêđíctô XVI, và từ năm 2010 đến năm 2014, theo yêu cầu của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, ngài giữ chức chủ tịch Ủy ban Điều tra Quốc tế về Medjugorje. Ngài cũng đứng đầu ủy ban học thuật của Quỹ Vatican Joseph Ratzinger – Bênêđíctô XVI.

Ngài ca ngợi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, nhưng lại cảm thấy không thoải mái lắm trong suốt triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Ngài cho rằng những lời chỉ trích của mình không xuất phát từ chủ nghĩa bảo thủ mà từ mối lo ngại rằng một số tín hữu có thể khó hiểu được hướng đi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đối với Giáo hội. Sau khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô qua đời vào tháng 4 năm 2025, Hồng Y Ruini đã đưa ra bốn điều kiện mà theo ngài, vị Giáo hoàng mới cần phải có: giáo lý đúng đắn, năng lực lãnh đạo, tinh thần hiệp thông và củng cố đức tin. Nhiều người quan sát nhận thấy trong những tiêu chuẩn này là một sự chỉ trích ngầm đối với triều Giáo Hoàng vừa kết thúc.

Đức Hồng Y tiếp tục lên tiếng công khai cho đến những ngày cuối đời. Trong một trong những cuộc phỏng vấn cuối cùng với tờ Corriere della Sera nhân dịp sinh nhật lần thứ 95 vào tháng Hai, Hồng Y Ruini cho biết ngài không tán thành việc Đức Bênêđíctô XVI từ chức, ca ngợi Đức Phanxicô vì “lòng dũng cảm tuyệt vời” nhưng chỉ trích ngài vì “quá ít coi trọng truyền thống”, và nói rằng ấn tượng đầu tiên của ngài về Đức Giáo Hoàng Lêô XIV là rất tốt. Ngài có quan điểm tiêu cực về Tổng thống Trump, nói rằng ông ta đã “làm đảo lộn chính trị Mỹ và thế giới”, và đang “đi theo một hướng rất đáng ngờ”. Ngài cũng không ủng hộ việc khôi phục Thánh lễ Latinh truyền thống, nói rằng “điều rất quan trọng là mọi người phải hiểu ngôn ngữ mà họ cử hành thánh lễ”.

Đức Hồng Y qua đời sau khi mắc bệnh tim ở những năm cuối đời, nhưng ngài đã trải qua những tháng cuối cùng với sự thanh thản. Theo tờ Corriere della Sera, ngài thường xuyên nói và viết về cái chết, chấp nhận sự ra đi của mình với “thái độ thờ ơ và thậm chí là vui vẻ”, và tiếp tục cử hành Thánh lễ cho đến ngay trước khi qua đời.

Trong bài điếu văn tưởng nhớ vị Hồng Y quá cố được đăng ngày 17 tháng 6, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nói rằng tin tức về sự ra đi của Đức Hồng Y đã khơi dậy trong lòng ngài “những cảm xúc gần gũi sâu sắc, cùng với lòng biết ơn đối với Chúa vì món quà là người đàn ông đáng kính này của Giáo hội, người đã sống trọn vẹn sứ vụ của mình một cách quảng đại”. Ngài nhắc lại di sản của vị Hồng Y đối với Giáo hội Ý, nhớ về ngài như một “người anh em giàu kinh nghiệm và khôn ngoan, được củng cố bởi đức tin sâu sắc, trí tuệ sắc bén và tầm nhìn xa trông rộng”, và người “phục vụ Tin Mừng và Giáo hội với sự thận trọng và hy sinh quên mình”.

Những lời tri ân chân thành tương tự cũng được gửi đến từ hàng giáo sĩ và các chính trị gia: Cựu thư ký riêng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Hồng Y Stanislaw Dziwisz, cho biết Hồng Y Ruini “luôn tìm kiếm điều tốt đẹp cho Giáo hội, với đức tin rõ ràng, lòng trung thành với Giáo huấn của Giáo hội, và một ý thức sâu sắc về bổn phận và trách nhiệm mục vụ”. Ngài bày tỏ lòng biết ơn đối với sự cộng tác của Hồng Y Ruini với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong những “thời điểm quyết định” trong đời sống của Giáo hội.

Đức Hồng Y Baldassare Reina, Tổng Đại Diện Giáo phận Rôma hiện tại, đã bày tỏ lòng biết ơn về “cuộc đời Kitô giáo lâu dài và hiệu quả cũng như sự phục vụ của ngài đối với Giáo hội” của Đức Hồng Y Ruini, và Đức Hồng Y Matteo Zuppi, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ý, cho biết Đức Hồng Y đã giúp Giáo hội tại Ý “suy nghĩ, phân định, nói và hành động theo thời đại của riêng mình”. Khẩu hiệu giám mục của Đức Hồng Y Ruini — Veritas liberabit nos (Chân lý giải phóng chúng ta) — “vẫn là lời kêu gọi dành cho tất cả mọi người”, ngài nói. Thủ tướng Ý, Giorgia Meloni, mô tả ngài là một “người vĩ đại của Giáo hội”, trong khi Romano Prodi nhớ lại “mối liên hệ sâu sắc” với Đức Hồng Y Ruini, người mà khi còn là một thanh niên ở Reggio Emilia, đã hướng dẫn ngài và những thanh niên khác trong giáo phận.

Elisabetta Valgiusti, một công dân Rôma quen biết Hồng Y Ruini, đã ca ngợi ngài là một “nhân vật hàng đầu trong đời sống của Giáo Hội Công Giáo ở mọi cấp độ, và trong các cuộc tranh luận công khai nói chung”. Bà đặc biệt khen ngợi ngài về sự am hiểu văn hóa, mà theo bà, ngài coi là “điểm giao thoa giữa sứ mệnh của Giáo hội và những nhu cầu cấp thiết nhất của quốc gia”.

Valgiusti, một nhà làm phim tài liệu của EWTN, người sáng lập tổ chức Save the Monasteries nhằm giúp đỡ các cộng đồng Kitô giáo thông qua các dự án văn hóa và truyền thông, đã nói với tờ Register rằng bà nhớ những cuộc trò chuyện với ngài “với lòng biết ơn và sự kính trọng”, đặc biệt là trong thời kỳ đại dịch. Bà nói: “Chúng tôi sẽ nhớ giọng nói mạnh mẽ và chính trực của ngài, cũng như ánh mắt sắc bén của ngài”.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV sẽ cử hành lễ tang cho Hồng Y Ruini tại Bàn thờ Ngai vàng trong Đền Thờ Thánh Phêrô vào chiều thứ Năm, ngày 18 tháng 6, cùng với các Hồng Y, Đức Tổng Giám Mục và giám mục.


Source:National Catholic Register
 
Văn Hóa
BỐ, BỐ Tôi
Nguyễn Trung Tây
00:14 18/06/2026
BỐ, BỐ Tôi
Nguyễn Trung Tây


Tháng 11 năm 1985, lá thư người anh con ông Bác ruột từ vùng đất đỏ Long Khánh dừng một bước chân tại hộp thư vùng thung lũng San Jose. Tôi mở lá thư giấy đen xỉn ra đọc… Ngày viết tháng 6... Tôi đọc tiếp, “Hôm Chú mất, anh đại diện em mặc áo tang cho Bố…”

!!!???

Tôi yên lặng không nói chi! Tôi không nói với ai (có lẽ ngay cả với chính mình) về giây phút nhận được tin đại tang Bố.

Một khoảng thời gian dài tôi như bôi xóa sự hiện hữu của một lá thư…

Mãi cho tới năm 2011 tại sa mạc Úc Châu, lần đầu tiên tôi viết xuống những hàng chữ diễn tả lại giây phút, “…Tôi đã lạc (lost) khi nhận được tin Bố trút hơi thở cuối đời tại Việt Nam, trong khi mình đang lang thang tại xứ người hơn một năm rồi. Một phần hồn của tôi đã chết, một góc tim bị xé rách toang, không bao giờ còn khả năng bình phục kể từ giây phút đó!!!…”

Cuối cùng, tôi quay về vùng đất quá khứ, đứng trước mộ Bố. Mới nói được mấy câu xin lỗi Bố, tôi nghẹn cổ, giọng khản đặc! Lần đầu tiên những giọt nước mắt từ hai khóe mắt con trai đầy tràn rồi bật tung bởi tang Bố. Lần đầu tiên những hạt nước mắt của một góc hồn (đã vỡ vụn bởi đại tang) rớt xuống đụng nắp mộ huyệt lạnh ngắt của Bố. Đá mài xanh xanh lấp lánh tia nắng mặt trời nhiệt đới sáng hôm đó nở tung mở lớn những hạt nước mắt con trai đứng giữa trời khóc, khóc Bố!

Hạt nước đầu tiên xuyên thủng tâm hồn chai cứng, kể từ giây phút đó nước mắt cứ thế nối tiếp vào những giây phút tư riêng và thiêng liêng … Tháng 1 năm 2012, trong bầu không khí nóng hừng hực thiêu đốt thủ đô Nam Vang, tại quán nước, tôi kể chuyện Bố với bạn thân. Tới đoạn, “…khi đứng trước mộ Bố,” tôi lại bật khóc, bạn tôi ngồi phía đối diện, khóc theo! Tháng 5 năm 2013, ngày giỗ 28 năm của Bố, tôi dâng thánh lễ cầu hồn tại sa mạc Central Australia.

Giữa ngôi giáo đường đá đỏ rộng thênh thang của phố Alice Springs, trước con mắt của bao nhiêu tín đồ thân thương, tôi cúi đầu chào, “Kính thưa Cộng đồng dân Chúa! Hôm nay giỗ Bố tôi, 28 năm…” Tới đó, tôi phải dừng lại, cũng lại bởi những hạt nước mắt. Tôi đứng đó, cạnh bàn thờ sa mạc, vỡ òa… Những hạt nước mắt rớt xuống, gặp nền đá lạnh màu đỏ, lại vẫn nở tung những đóa hoa.

Những hạt nước mắt khóc Bố nhắc nhở kỷ niệm, tôi nhớ sớm nhất với Bố. Lần đó Bố con đón xe đò lên Biên Hòa ăn đám cưới. Tôi khoảng 6 tuổi, nhỏ lắm. Ngồi cạnh bên Bố ăn tiệc cưới xong, tôi mắt nhắm lại, ngủ thẳng một giấc. Mở mắt ra, tôi vẫn nhớ những tia nắng chiếu xiên xiên ngang qua khung cửa soi rõ tôi nằm bơ vơ một mình trên giường trải chiếu cói. Tôi ngơ ngác nhìn chung quanh!? Sao toàn những khuôn mặt lạ! Bố tôi biến mất! Tôi hét lớn, “Bố ơi!”, rồi ngồi bật dậy, òa khóc đòi Bố! Bà chị vội chạy sang nhà hàng xóm gọi, “Chú ơi!”. Bố chạy về bế tôi lên, ôm vào lòng, tay đập nhè nhẹ vào lưng con trai! Tôi gục mặt vào vai Bố, nước mắt nước mũi chảy xuống ướt một khoảng lưng áo Bố. Cảm giác lạc loài, bơ vơ và nhói đau của một khúc ruột (hay trái tim? dạ dày?) bởi không có Bố ở bên cạnh vẫn còn hiện diện trong hồn cho đến bây giờ. Chuyện thời xa xưa, nhưng sao lạ, vẫn như chuyện mới, mới xảy ra trưa hôm qua.

Cũng như bao nhiêu người khác, tôi bước vào đời với nhiều nỗi sợ tiềm ẩn sâu thăm thẳm trong hồn. Có người sợ bóng đêm, có người sợ độ cao! Tôi, tôi sợ bơ vơ không có Bố!…

Bố đi đâu, tôi cũng hay được đi theo (chắc Bố biết nỗi sợ sâu thẳm của tôi). Đi vô Thành Ông Năm (Hốc Môn) thăm Cô (em ruột Bố), tôi được đi xe lam với Bố. Xuống tới Bến Tre thăm Bác (chị ruột Bố), tôi được ngồi cạnh Bố trên xe đò bon bon lăn những vòng bánh to tròn xuống tới tỉnh Kiến Hòa. Tôi nhổ cẳng lớn lên dưới bóng râm cổ thụ của Bố cho tới ngày bỏ nước ra đi, tháng 10 năm 82…

Sáng sớm tinh mơ ngày hôm đó, tôi chào Bố, ruột nhói đau. Nếu thuyền gỗ tới bến, tôi sẽ không còn Bố!?… Khi tôi bước ra khỏi nhà, Bố vẫn ngồi yên lặng trước bàn thờ Chúa, tay lần những tràng chuỗi kinh Mân Côi. Những lời kinh sáng sớm bay cao tới thiên đàng; bởi thế sau những vật lộn với sóng biển và hải tặc, thuyền gỗ PB 706 khập khễnh mang tôi tới bờ cát trắng phố Marang, Mã Lai.

Tại đảo Pulau Bidong, tôi nhận được thư Bố nhắn: nhớ mua thuốc tây gửi về cho Bố…

Đi khám tổng quát, phần lịch sử bệnh tật gia đình, tôi khai: Suyễn! Bác sĩ hỏi ai vậy! Tôi nói, “Bố tôi bệnh suyễn, rồi chết cũng vì bệnh suyễn.” Đốc tờ, ai cũng vậy, đều ngạc nhiên, phản ứng ngay, “Suyễn thì làm sao mà chết cho được!” Đương nhiên! Làm sao mà chết cho được bởi bệnh suyễn. Nhưng bác sĩ phương Tây đâu sinh ra làm người Việt Nam giữa thập niên 70 để mà hiểu về một thời; thời đôi dép để trước cửa nhà, dép nhựa cũ mòn bốc hơi biến vào đôi quang gánh người bán ve chai; thời phơi áo trong sân, áo bay lên cao biến vô chợ trời; thời Sài Gòn phố vắng tênh, thênh thang trống vắng ngay cả xe đạp; thời một viên thuốc con nhộng Penicilline tôi lấy (trộm) của Mẹ, đưa thằng bạn thân nhờ người mang bán chợ trời, hai đứa cầm một đống tiền bán viên thuốc trụ sinh ăn no nê mấy tô Phở và uống đã đời mấy ly càfe có hũ đường cát trắng tinh.

Biến cố 75 như cơn sóng thần cao ngất đổ xuống. Phố phường đổi thay! Dòng thời gian tiếp nối những vòng xoay tròn dẫn tới một đêm, tôi giật mình mở mắt thấy Bố vật mình lăn lộn trên giường; khi đó mới biết Bố bị suyễn. Có thuốc, cơn suyễn hạ; không thuốc, cơn suyễn hành Bố vật vã…

Thuốc tây của những cuối năm 70 và đầu năm 80 tại Việt Nam hiếm hoi lạng vàng!

Năm 84, đặt chân tới Mỹ, tôi gửi thuốc Suyễn và ống xịt về Việt Nam biếu Bố.

Ngày và tháng bình thản trôi qua tại thung lũng San Jose với những chờ đợi và hy vọng vào một ngày, ngày đoàn tụ, ngày của Bố và con.

Ngày rồi cũng tới (không như mong đợi), ngày tôi quay về nơi đã từng bỏ đi để gặp Bố, nói cho chính xác, mộ của Bố. Tôi đứng đó, đốt những nén nhang khói trắng ngào ngạt bốc cao tưởng nhớ linh hồn Bố. Tôi nhìn mộ bia khắc hình Bố, tên Bố, ngày tháng năm sinh… Tôi biết đó là giây phút đoàn tụ của Bố và con.

Chuyện đoàn tụ chưa chấm hết. Mấy tuần sau, tôi gặp hài cốt của Bố, từ dưới mộ sâu đưa lên (gia đình tôi quyết định cải mộ). Sau những thước đất đen, áo quan dần dần lộ dạng. Nắp quan bật tung mở ra nguyên vẹn hình hài của Bố nằm gọn bên trong. Tôi gặp lại Bố bằng xương, nhưng thịt đã hóa thành đất đen! Cả hai người chị và tôi cùng bật tung nước mắt, “Bố ơi!”. Chị tôi khóc, “Bố ơi, giờ sao chỉ còn xương!!!”. Xương cốt Bố gom lại, lò thiêu Bình Hưng Hòa đốt thành tro, đặt trong lọ sành. Hồi xưa tôi 6 tuổi, Bố ôm tôi vào lòng, tôi dựa đầu lơ thơ tóc tơ vào vai bố. Lần này tôi thôi thơ ấu, tôi ôm Bố vào lòng. Tôi trịnh trọng mang Bố về đặt trong nhà thờ giáo xứ. Kể từ giây phút ôm lại được Bố vào lòng, tôi biết một phần hồn bắt đầu thôi không mưng mủ, đã chịu lên da non!

Người Do Thái có một câu nổi tiếng, “Dưới vòm trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời. Một thời để sinh ra và một thời để chết đi.”

Bố tôi cũng như tất cả mọi người đã tới cuộc đời này, sau cùng Bố bỏ đi về cõi vĩnh hằng, để lại trên cõi đời này xương cốt, và hiện giờ là bụi tro trong hũ sành đặt tại nguyện đường Phục Sinh của giáo xứ Lộc Hưng, Sài Gòn.

Bố, thể xác không còn, nhưng anh linh hiển hiện trong cõi muôn trùng. Vào những giây phút đen tối của cuộc đời hoặc những lúc bơ vơ không chỗ nương tựa, tôi vẫn hướng về trời gọi, “Bố ơi!”. Vẫn như thuả tôi ấu thơ, Bố lại về trong tâm thức! Tôi vẫn dựa vào vai Bố, Bố vẫn giơ tay đập nhè nhè vào lưng tôi, ru tôi bớt đi những nỗi phiền muộn nhọc nhằn!

…Tựa như chuyện cổ tích ngọt ngào mùi cơm thơm, Bố làm Bụt hiện ra gọi chim trời từng đàn bay xuống nhặt đậu xanh đậu đỏ cho con! Bởi có thể phách anh linh của Bố, con lại thêm một lần vượt qua những giây phút tuyệt vọng với đời, với người và với con. Bố vẫn ở với con, như một chuyện bình thường!

Tôi quyết định vẫn mừng ngày Lễ Bố.