1. Đức Giáo Hoàng nói thế giới “đang bị tàn phá bởi những tên bạo chúa” trong bối cảnh tranh cãi với Tổng thống Trump vẫn tiếp diễn.

Hôm thứ Năm, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV cảnh báo “thế giới đang bị tàn phá bởi một nhóm nhỏ những kẻ bạo chúa”. Diễn biến này làm leo thang mạnh mẽ cuộc khẩu chiến với Tổng thống Trump. Chúng tôi sẽ tường thuật thêm chi tiết về phản ứng của Tổng thống Trump nhưng trên Truth Social ông ấy tỏ ra rất tức giận trước nhận định mới nhất này của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV.

Mặc dù Giáo hoàng người Mỹ không trực tiếp nêu tên Tổng thống Trump, nhưng ngài đã công khai lên án các nhà lãnh đạo toàn cầu sử dụng tôn giáo để biện minh cho chiến tranh.

“Khốn thay cho những kẻ lợi dụng tôn giáo và chính danh xưng của Chúa để phục vụ lợi ích quân sự, kinh tế và chính trị của riêng mình, kéo những điều thiêng liêng vào bóng tối và sự dơ bẩn,” Đức Giáo Hoàng Lêô nói với đám đông tại Nhà thờ Thánh Giuse ở Bamenda, Cameroon, vào ngày thứ tư trong chuyến hành hương đến bốn quốc gia Phi Châu của ngài.

Các thành viên trong chính quyền Tổng thống Trump đã mô tả cuộc chiến của Mỹ và Israel chống lại Iran như một cuộc thập tự chinh tôn giáo. Tháng trước, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tuyên bố rằng các binh sĩ tham gia chiến dịch đang được bảo vệ bởi “sự che chở của Thiên Chúa toàn năng”. Hôm thứ Năm, ông đã trích dẫn sai một câu Kinh Thánh khi mô tả việc giải cứu một phi công bị bắn rơi, so sánh các phóng viên với những người Pharisêu tự cho mình là công chính trong Kinh Thánh, và nói rằng quân đội Mỹ đang chiến đấu “nhân danh Chúa Giêsu Kitô”.

Những lời lẽ mang tính tôn giáo đã khiến Giáo hoàng, một trong những người phản đối chiến tranh mạnh mẽ nhất, cảm thấy khó chịu.

“Chúa không ban phước cho bất kỳ cuộc xung đột nào,” Đức Giáo Hoàng nói hồi đầu tháng này. “Bất cứ ai là môn đệ của Chúa Kitô, Hoàng tử Hòa bình, đều không bao giờ đứng về phía những kẻ từng cầm gươm và ngày nay ném bom.”

Hôm Chúa Nhật tuần trước, Tổng thống Trump đã chỉ trích Giáo hoàng khi ông đăng tải trên Truth Social gọi Đức Giáo Hoàng Lêô là “yếu kém” trong vấn đề tội phạm và “tồi tệ” trong chính sách đối ngoại.

Hôm thứ Hai, Giáo hoàng đáp lại bằng cách nói với các phóng viên đi cùng ông trên máy bay của Giáo hoàng rằng ông “không hề sợ chính quyền Tổng thống Trump”, cũng như không có ý định né tránh việc truyền bá “thông điệp phúc âm, với vai trò là người kiến tạo hòa bình”.

Phó Tổng thống Mỹ JD Vance — người đã cải đạo sang Công Giáo năm 2019 — đã can thiệp vào cuộc tranh cãi hôm thứ Ba, cảnh báo Đức Lêô nên “cẩn thận” khi thảo luận về thần học. Ông cũng viện dẫn các giáo lý Công Giáo, bao gồm “truyền thống 1.000 năm về lý thuyết chiến tranh chính nghĩa”.

Hội đồng giám mục Hoa Kỳ nhanh chóng đưa ra một tuyên bố bác bỏ những bình luận của phó tổng thống, nói rằng để được coi là “một cuộc chiến chính nghĩa, nó phải là sự tự vệ chống lại một kẻ khác đang chủ động gây chiến.”

Hôm Thứ Năm, 16 Tháng Tư, Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth của Tổng thống Trump lại cố gắng ca tụng các hành động quân sự của Tổng thống Trump với việc Chúa Giêsu chữa lành cho một bệnh nhân trong ngày Sabát

Hegseth đã chỉ trích mạnh mẽ việc đưa tin về cuộc chiến tranh Mỹ-Israel ở Iran, so sánh các phương tiện truyền thông phê phán chiến dịch này với những người Pharisêu trong Kinh thánh, tổ tiên của Do Thái giáo hiện đại.

Ông chỉ trích các thành viên trong giới truyền thông là các “Pharisêu” trong các sách Phúc Âm Kitô, những người lên án Chúa Giêsu vì đã chữa lành bệnh cho một người đàn ông vào ngày Sabát.

Hegseth, trong cách hiểu riêng của mình về đoạn Kinh Thánh này, nói rằng: “Bạn thấy đấy, những người Pharisêu, những người được gọi là tầng lớp tinh hoa tự phong của thời đó, họ có mặt ở đó để chứng kiến, để ghi chép mọi thứ, để tường thuật. Nhưng lòng họ chai đá. Mặc dù họ đã chứng kiến một phép lạ thực sự, nhưng điều đó không quan trọng.”

Ông nói tiếp, “Tôi ngồi đó trong nhà thờ và nghĩ, giới báo chí của chúng ta cũng giống như những người Pharisêu này. Không phải tất cả các bạn. Không phải tất cả. Nhưng là giới báo chí cũ, những người căm ghét Tổng thống Trump.”

Những người Pharisêu là một giáo phái Do Thái vào cuối thời kỳ Đền thờ thứ hai, bao gồm các học giả sáng lập của Do Thái giáo Rabbinic, những người có bộ kinh điển văn học và truyền khẩu định hình các tập tục truyền thống của người Do Thái cho đến ngày nay.

Câu chuyện được Hegseth thuật lại, xuất hiện trong nhiều phiên bản khác nhau trong các sách Phúc Âm theo Thánh Matthêu, Máccô và Luca, kể rằng Chúa Giêsu vào một hội đường vào ngày Sabát của người Do Thái và chữa lành cho một người đàn ông bị teo tay.

Theo sách Máccô, một số người Pharisêu “đang tìm cớ để buộc tội Chúa Giêsu, nên họ theo dõi sát sao Ngài để xem Ngài có chữa bệnh cho ai vào ngày Sabát hay không.”

Sau khi Chúa Giêsu bất chấp các người Pharisêu và chữa lành cho người đàn ông, “các người Pharisêu liền đi ra và bắt đầu âm mưu với những người thuộc phe Hêrôđê để giết Chúa Giêsu”, Kinh Thánh chép rằng.

Lời cáo buộc rằng người Do Thái đã giết Chúa Giêsu sau này trở thành cái cớ cho vô số vụ bạo lực bài Do Thái trong suốt thời Trung Cổ và cả sau đó. Theo các báo cáo, Hegseth đã bị truyền thông Mỹ chỉ trích vì sử dụng các mô típ Kitô giáo để mô tả và biện minh cho cuộc chiến ở Iran.


Source:Politico

2. Cuộc đối đầu thiếu suy xét của Vance với Đức Giáo Hoàng

Bàn về cuộc tấn công của Phó tổng thống Mỹ James David Vance chê bai Đức Thánh Cha Lêô XIV giảng dậy sai lầm về thần học, tờ Catholic Herald có bài nhận định nhan đề “Vance’s misjudged clash with the Pope”, nghĩa là “Cuộc đối đầu thiếu suy xét của Vance với Đức Giáo Hoàng”. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Phản ứng gay gắt gần đây của Phó Tổng thống JD Vance đối với lời kêu gọi hòa bình thận trọng của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trong cuộc chiến tranh thảm khốc với Iran là điều không may – cho cả hai phía. Về phía các chính trị gia, sự phản ứng thiếu khôn ngoan này có vẻ hoàn toàn trẻ con và có khả năng sẽ phản tác dụng. Tòa Bạch Ốc không chỉ không thắng trong cuộc đấu tranh quyền lực về tư tưởng này, mà còn có nguy cơ đẩy các nhà chức trách Giáo hội xa lánh họ hơn và làm mất lòng cử tri Công Giáo.

Đây là một người đàn ông đã cải đạo sang Công Giáo khi trưởng thành, giờ lại đang lên lớp cho Người kế vị Thánh Phêrô là phải hết sức “cẩn thận” khi nói về thần học, như thể Đại diện của Chúa Kitô là một người mới vào nghề đang nhầm lẫn giữa lĩnh vực bàn thờ và chiến trận. Lời phàn nàn của Vance là Đức Giáo Hoàng nên tập trung vào các vấn đề đạo đức và để việc điều hành chiến tranh cho những người hiểu về chính nghĩa, nhưng trong bối cảnh chiến tranh Iran và cuộc xâm lược Li Băng của Israel, điều đó nghe giống như một cậu bé vùng vằng ném đồ chơi ra khỏi xe đẩy ngay khi bị cha khiển trách.

Chúng tôi không có ý muốn nói là giáo dân và các thế lực dân sự không bao giờ có quyền phản kháng hay khiển trách sự lạm quyền của Đức Giáo Hoàng hay giáo sĩ – họ hoàn toàn có thể. Các Hoàng đế của đế quốc Rôma đã từng làm vậy. Và trong một số trường hợp ngoại lệ, họ nên làm thế. Nhưng dù các Hoàng đế Rôma đã từng làm như vậy, người ta lại muốn khuyên Vance đừng làm thế khi Giáo hội thực sự đang đứng vững trên lập trường đạo đức cao cả, và đừng nên giao tiếp với thái độ thiếu trang trọng như vậy.

Chúng ta cần hiểu rõ những gì Đức Giáo Hoàng thực sự đã nói. Lời kêu gọi của ngài luôn nhất quán, thậm chí là ôn hòa theo bất kỳ tiêu chuẩn lịch sử nào. Đối mặt với cuộc xung đột đã gieo rắc sự tàn phá khắp Trung Đông, với sự đau khổ của thường dân ngày càng gia tăng và nguy cơ bùng nổ chiến tranh trên quy mô lớn luôn hiện hữu, giá cả leo thang và cuộc khủng hoảng quốc tế ở eo biển Hormuz khi Iran không có dấu hiệu sụp đổ hay sẵn sàng nhượng bộ, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV chỉ đơn giản nhắc lại những gì Giáo Hội luôn dạy. Cụ thể là hòa bình là kết quả của công lý, chứ không phải là sự leo thang bất tận; rằng vũ khí gieo rắc cái chết ngay cả khi được sử dụng với ý định chính đáng; và rằng Chúa không phải là biểu tượng của một bộ lạc nào đó để bất kỳ bên nào cầu khẩn khi ném bom sát hại đối phương. Ngài đã trích dẫn Kinh Thánh – đặc biệt là sách Isaiah – nhắc nhở những người quyền lực rằng Chúa không lắng nghe lời cầu nguyện của những người có bàn tay nhuốm máu người vô tội khi họ tiến hành chiến tranh. Ngài đã kêu gọi ngoại giao lấy lại vai trò đúng đắn của mình, cảnh báo chống lại vòng xoáy bạo lực trở thành vực thẳm không thể cứu vãn và bày tỏ hy vọng về một “lối thoát” trước khi lòng thù hận lan rộng hơn nữa. Đây là những lời khuyên nghiêm chỉnh, đầy tính cha con của một người mục tử nhìn nhận tổn thất về con người một cách sáng suốt hơn hầu hết các chính trị gia bị trói buộc bởi những cuốn sổ tay ghi chép. Vance, Tổng thống Trump và những người cùng phe phái tự biến mình thành trẻ con khi giả vờ rằng đó là những lời nói cuồng loạn của một nhà lý tưởng theo chủ nghĩa hòa bình.

Tất cả những điều này không phủ nhận tính chính đáng của học thuyết chiến tranh chính nghĩa – một truyền thống kéo dài từ thời Aquinas đến Augustinô và bắt nguồn từ chính luật tự nhiên. Đức Giáo Hoàng không lên án mọi hành động sử dụng vũ lực. Ngài chỉ đơn giản là từ chối chúc phúc cho cuộc phiêu lưu cụ thể này như một cuộc thập tự chinh thánh thiện, như thường lệ của Kitô hữu theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái hiếu chiến trong Đảng Cộng hòa, đặc biệt khi kết quả thực tế lại quá cay đắng: sự bành trướng chiến lược quá mức, bất ổn khu vực và số người chết mà nói thẳng ra là đang chế giễu những khẩu hiệu dễ dãi về giải phóng. Việc một phó tổng thống Công Giáo phản ứng bằng cách công khai đặt câu hỏi liệu lời nói của Đức Giáo Hoàng có “dựa trên sự thật” hay không, đồng thời viện dẫn Chiến tranh Thế giới thứ hai như thể nó đã giải quyết mọi xung đột hiện đại, là làm giảm lý lẽ đạo đức sâu sắc xuống thành lời lẽ bắt bẻ. Điều này khiến chính quyền trông có vẻ nhạy cảm, thậm chí là độc ác, như thể bất kỳ tiếng nói nào kêu gọi kiềm chế đều phải bị dập tắt ngay lập tức để những người tín hữu không nhận ra rằng hoàng đế không mặc quần áo. Nếu công chúng vẫn chưa quyết định về cuộc chiến, phản ứng thái quá này sẽ không làm cho họ ủng hộ hơn.

Tệ hơn nữa, cuộc tranh cãi này phơi bày sự nhầm lẫn sâu sắc hơn về mối quan hệ đúng đắn giữa trật tự tâm linh và trật tự thế tục – một sự nhầm lẫn mà Giáo hội đã làm sáng tỏ nhiều lần, đặc biệt là trong giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII. Trong thông điệp Immortale Dei hay Công Trình Bất Diệt Của Thiên Chúa, Vị Giáo Hoàng vĩ đại đó đã nhắc nhở thế giới rằng xã hội được cấu thành từ hai quyền lực riêng biệt nhưng hài hòa: Giáo hội, chăm lo cho số phận vĩnh cửu của các linh hồn, và chính quyền dân sự, cai quản lợi ích chung thế tục. Chúng là những thực thể riêng biệt nhưng cùng cộng tác dưới sự hướng dẫn của Chúa, mỗi bên cai trị phạm vi của mình. Tuy nhiên, Đức Lêô XIII không phải là người theo chủ nghĩa tách biệt tự do. Ngài nhấn mạnh rằng hai quyền lực này, mặc dù riêng biệt, nhưng chồng chéo một cách tự nhiên bởi vì con người không phải là một linh hồn không có thân xác cũng không phải là một loài động vật kinh tế đơn thuần. Giáo hội có quyền và nghĩa vụ hình thành lương tâm, công bố luật luân lý và phán xét hành vi của những người cai trị khi những hành vi đó liên quan đến công lý, sự thiêng liêng của sự sống hoặc hòa bình quốc gia. Ngài viết: “Phải có một mối liên hệ phù hợp và có trật tự nhất định giữa hai quyền lực”, tương tự như linh hồn và thân xác trong con người. Linh hồn không điều khiển từng cử động nhỏ nhất của cơ thể, nhưng cơ thể cũng không ra lệnh cho linh hồn về điều gì là đúng hay là tốt.

Thông điệp Rerum Novarum hay Tân Sự và các thông điệp xã hội khác của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII mở rộng nguyên tắc này vào thực tiễn. Giáo hội không có ý định điều hành chính sách đối ngoại hay soạn thảo chiến lược quân sự; điều đó thuộc về sự khôn ngoan của các chính khách. Nhưng Giáo hội không thể im lặng khi chính sách đi vào lãnh địa đạo đức nghiêm trọng – khi chiến tranh có nguy cơ trở nên không cân xứng, khi lòng thù hận bị thổi bùng lên thay vì kiềm chế, khi kẻ yếu bị chà đạp dưới tham vọng địa chính trị. Bảo Đức Giáo Hoàng “hãy tập trung vào thần học” như thể thần học không có gì để nói về việc đổ máu, việc thực thi công lý hay việc theo đuổi hòa bình đích thực là làm sống lại sai lầm cũ của Gallican hay Erastian: quan niệm rằng Giáo hội là một vấn đề hoàn toàn nội bộ, hữu ích cho việc sùng kính cá nhân nhưng không liên quan khi các vị vua hoặc tổng thống quyết định hành quân.

Khi đà phát triển văn hóa của Công Giáo ngày càng mạnh mẽ, thật khó để thấy điều này là điềm lành cho phong trào MAGA. Nhiều người Công Giáo ủng hộ nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump không phải vì họ nhầm tưởng ông là một vị thánh hoàn hảo, mà vì ông hứa hẹn chống lại sự điên rồ của chủ nghĩa toàn cầu, bảo vệ thai nhi và chống lại sự tan rã văn hóa. Những lời công kích thiếu thiện chí nhằm vào Đức Thánh Cha có nguy cơ làm mất lòng chính những tín hữu vẫn tin rằng Đức tin không phải là một thương hiệu lối sống phải bị lệ thuộc vào thông điệp đảng phái. Những lời công kích của Vance cung cấp vũ khí cho những người Công Giáo cấp tiến, là những người vốn đã coi đạo lý chính thống chỉ là trò hề trong cuộc chiến văn hóa. Những lời công kích ấy khiến phe cánh hữu trông có vẻ phản ứng thụ động và thiếu nghiêm chỉnh đối với chính những vấn đề – sự sống, gia đình, tự do có trật tự dưới sự che chở của Chúa – là những khía cạnh mà lẽ ra họ phải dẫn đầu. Và những lời của Vance xác nhận sự nghi ngờ, vốn đã lan rộng trong những người theo chủ nghĩa truyền thống, rằng đối với một số người trong chính quyền Trump, Công Giáo chỉ là một di sản hữu ích hơn là một thẩm quyền sống động mà ngay cả những người quyền lực cũng phải quỳ gối. MAGA và Giáo hội nên là đồng minh. Nhưng đó không phải là một liên minh bình đẳng.

Lĩnh vực hoạt động của Giáo hội quả thực trước hết và trên hết là về đạo đức và tâm linh. Giáo hội không còn chỉ huy quân đội nữa. Nhưng chính vì mối quan tâm của Giáo hội là linh hồn của thể chế chính trị, nên Giáo hội không thể bị loại bỏ khỏi diễn đàn công cộng bất cứ khi nào tiếng nói của Giáo hội gây bất tiện cho những người có quyền lực. Lời kêu gọi hòa bình của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trong cuộc xung đột Iran đầy đau thương này là khôn ngoan, dựa trên Kinh Thánh và cần thiết về mặt mục vụ. Việc đáp lại những lời kêu gọi đó bằng thái độ ương bướng như trẻ con không mang lại lợi ích gì cho chính quyền. Điều đó cho thấy sự thất bại trong việc nắm bắt được sự hiểu biết sâu sắc cổ xưa của Công Giáo rằng quyền lực đích thực – dù là của Đức Giáo Hoàng hay của Tổng thống – được thực thi một cách cao quý nhất khi nó nhận ra giới hạn của mình và tôn trọng luật lệ cao hơn mà từ đó mọi quyền lực chính đáng đều bắt nguồn.

Người Mỹ nên suy ngẫm về điều này. Lòng trung thành với đức tin của tổ tiên vượt lên trên lòng trung thành bầu cử và đòi hỏi sự khiêm nhường để chấp nhận sự sửa sai, ngay cả - và đặc biệt là - khi sự sửa sai đó đến từ Rôma.


Source:Catholic Herald

3. Đức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ với cộng đoàn Công Giáo tại nhà thờ chính tòa Thánh Giuse.

Kính thưa quý vị và anh chị em,

Với sắc chỉ Tametsi Christianarum ngày 13 tháng 8 năm 1970, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã thành lập Giáo phận Bamenda với lãnh thổ tách biệt khỏi Giáo phận Buéa. Vào ngày 18 tháng 3 năm 1982, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã nâng giáo phận này lên hàng Tổng giáo phận Bamenda, đồng thời thành lập Giáo phận Kumbo với lãnh thổ tách khỏi Giáo phận Bamenda. Tính đến tháng 11 năm 2013, tổng giáo phận có 35 giáo xứ.

Như chúng tôi đã đưa tin, lúc 10h sáng thứ Năm 16 Tháng Tư, Đức Thánh Cha đã khởi hành từ phi trường quốc tế Yaoundé-Nsimalen để bay đến phi trường Bamenda cách đó 393km. Sau 1h bay, ngài đến nơi.

Lúc 11h, Đức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ với cộng đoàn Công Giáo tại nhà thờ chính tòa Thánh Giuse.

Diễn từ của Đức Lêô XIV tại Buổi Gặp Gỡ Vì Hòa Bình Với Cộng Đồng Bamenda, Cameroon, tại Nhà thờ chính tòa Thánh Giuse

Anh chị em thân mến,

Tôi rất vui mừng được ở cùng anh chị em trong khu vực đã chịu nhiều đau khổ này. Như những lời chứng của anh chị em vừa chứng minh, kinh nghiệm sống về sự đau khổ của cộng đồng anh chị em chỉ càng củng cố thêm niềm tin của anh chị em rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta! Trong Thiên Chúa, trong bình an của Người, chúng ta luôn có thể bắt đầu lại!

Đức Tổng Giám Mục đã nhắc đến lời tiên tri rằng: “Đôi chân trên núi của sứ giả loan báo hòa bình đẹp đẽ xiết bao!” (I-sai-a 52:7). Ngài đã chào đón tôi bằng những lời này, và giờ tôi muốn đáp lại: Đôi chân của anh chị em cũng thật đẹp, lấm lem bụi bặm từ mảnh đất nhuốm máu nhưng màu mỡ này, nơi bị đối xử tàn tệ nhưng lại trù phú cây cối và hoa quả. Đôi chân của anh chị em đã đưa anh chị em đến tận đây, và bất chấp những khó khăn và trở ngại, chúng vẫn kiên định trên con đường thiện lành. Mong rằng tất cả chúng ta sẽ tiếp tục trên con đường thiện lành dẫn đến hòa bình. Tôi biết ơn những lời chào đón của anh chị em, bởi vì điều đó là sự thật: Tôi đến đây để rao giảng hòa bình. Nhưng tôi nhận thấy chính anh chị em đang rao giảng hòa bình cho tôi, và cho toàn thế giới. Như một người trong số anh chị em đã nhận xét, cuộc khủng hoảng ảnh hưởng đến các vùng này của Cameroon đã đưa cộng đồng Kitô giáo và Hồi giáo xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. Thật vậy, các nhà lãnh đạo tôn giáo của anh chị em đã cùng nhau thành lập Phong trào Hòa bình, thông qua đó họ tìm cách làm trung gian hòa giải giữa các bên đối lập.

Tôi ước điều này sẽ xảy ra ở nhiều nơi khác trên thế giới. Chứng nhân của anh chị em, công việc vì hòa bình của anh chị em có thể là một hình mẫu cho toàn thế giới! Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: Phúc cho những người kiến tạo hòa bình! Nhưng khốn thay cho những kẻ lợi dụng tôn giáo và chính danh Chúa để phục vụ lợi ích quân sự, kinh tế hoặc chính trị của mình, kéo điều thánh thiêng vào bóng tối và sự ô uế. Phải, anh chị em thân yêu của tôi, những người đói khát công lý, những người nghèo khó, thương xót, hiền lành và trong sạch tâm hồn, những người đã khóc than – anh chị em là ánh sáng của thế giới! (xem Mt 5:3-14). Bamenda, hôm nay bạn là thành phố trên đồi, rạng rỡ trong mắt mọi người! Thưa anh chị em, anh chị em hãy là muối liên tục làm cho mảnh đất này thêm hương vị. Đừng đánh mất hương vị của mình, ngay cả trong những năm tháng sắp tới! Hãy trân trọng tất cả những khoảnh khắc đã cùng nhau chia sẻ trong những thời khắc đau buồn này. Chúng ta hãy trân trọng ngày hôm nay khi chúng ta cùng nhau làm việc vì hòa bình! Hãy như dầu được đổ lên vết thương của anh chị em mình.

Về phương diện này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả những người, đặc biệt là các nữ tu và giáo dân, những người chăm sóc những người bị tổn thương bởi bạo lực. Đó là một nhiệm vụ khổng lồ mà ngày càng ít người biết đến, và như Sơ Carine đã nhắc nhở chúng ta, nó cũng rất nguy hiểm.

Những kẻ cầm đầu chiến tranh giả vờ không biết rằng chỉ cần một khoảnh khắc để phá hủy, nhưng cả đời người thường không đủ để xây dựng lại. Chúng nhắm mắt làm ngơ trước thực tế rằng hàng tỷ đô la được chi cho việc giết chóc và tàn phá, trong khi các nguồn lực cần thiết cho việc chữa lành, giáo dục và phục hồi lại không hề có. Những kẻ cướp đoạt tài nguyên đất đai của anh chị em thường đầu tư phần lớn lợi nhuận vào vũ khí, do đó duy trì một vòng luẩn quẩn bất ổn và chết chóc không hồi kết thúc. Đó là một thế giới bị đảo lộn, một sự bóc lột công trình sáng tạo của Thiên Chúa mà mọi lương tâm chân chính phải lên án và bác bỏ. Chúng ta phải thực hiện một sự thay đổi hướng đi quyết định — một sự hoán cải thực sự — sẽ dẫn chúng ta đi theo hướng ngược lại, trên một con đường bền vững giàu tình huynh đệ nhân loại. Thế giới đang bị tàn phá bởi một số ít bạo chúa, nhưng nó được giữ vững bởi vô số anh chị em hỗ trợ! Họ là con cháu của Abraham, đông đảo như sao trên trời và hạt cát trên bờ biển. Chúng ta hãy nhìn vào mắt nhau: chúng ta là một dân tộc rộng lớn! Hòa bình không phải là điều chúng ta phải tạo ra: đó là điều chúng ta phải đón nhận bằng cách chấp nhận người láng giềng như anh chị em ruột thịt. Chúng ta không chọn anh chị em của mình: chúng ta chỉ đơn giản là phải chấp nhận lẫn nhau! Chúng ta là một gia đình, cùng chung sống trên một mái nhà: hành tinh tuyệt vời này mà các nền văn hóa cổ thời đã gìn giữ qua hàng thiên niên kỷ.

Lời dạy của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium đã hiện lên trong tâm trí tôi khi tôi lắng nghe những lời của anh chị em. Ngài viết: “Sứ mệnh của tôi là ở trong trái tim của mọi người không chỉ là một phần của cuộc sống hay một huy hiệu tôi có thể cởi bỏ; nó không phải là điều gì đó ‘thêm vào’ hay chỉ là một khoảnh khắc khác trong cuộc đời. Thay vào đó, đó là điều tôi không thể nhổ bỏ khỏi bản thể của mình mà không hủy hoại chính mình. Tôi là một sứ mệnh trên trái đất này; đó là lý do tại sao tôi ở đây trên thế giới này” (số 273).

Anh chị em Bamenda thân mến, chính với những tình cảm này mà tôi có mặt ở đây hôm nay giữa anh chị em! Chúng ta hãy cùng nhau phụng sự hòa bình! “Chúng ta phải coi mình như được đóng dấu, thậm chí được khắc ghi, bởi sứ mệnh mang ánh sáng, phước lành, sự sống động này, nâng đỡ, chữa lành và giải phóng. Khắp nơi xung quanh chúng ta, chúng ta bắt đầu thấy những y tá có tâm hồn, những giáo viên có tâm hồn, những chính trị gia có tâm hồn, những người đã chọn sâu thẳm trong lòng để ở bên cạnh người khác và vì người khác” (ibid.). Như vậy, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đã kêu gọi chúng ta cùng nhau bước đi, mỗi người theo ơn gọi của riêng mình, mở rộng ranh giới của cộng đồng, bắt đầu bằng những nỗ lực cụ thể ở cấp địa phương, để yêu thương người lân cận, bất kể họ là ai và ở đâu. Anh chị em là những người chứng kiến cuộc cách mạng thầm lặng này! Như vị Imam đã nói, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì cuộc khủng hoảng này đã không biến thành một cuộc chiến tranh tôn giáo, và rằng tất cả chúng ta vẫn đang cố gắng yêu thương lẫn nhau! Chúng ta hãy tiến về phía trước một cách can đảm, không nản lòng, và trên hết, cùng nhau, luôn luôn cùng nhau!

Chúng ta hãy cùng nhau bước đi, trong tình yêu thương, luôn luôn tìm kiếm hòa bình.

Bên ngoài Nhà thờ, Đức Thánh Cha nói thêm:

Anh chị em thân mến, hôm nay Chúa đã chọn tất cả chúng ta làm những người mang lại hòa bình cho đất nước này! Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện với Chúa, để hòa bình thực sự ngự trị giữa chúng ta, để khi chúng ta thả những con chim bồ câu trắng này — biểu tượng của hòa bình — thì hòa bình của Chúa sẽ ở cùng tất cả chúng ta, trên mảnh đất này, và giữ gìn sự hiệp nhất của chúng ta trong bình an của Người. Ca ngợi Chúa!

4. Thánh lễ tại phi trường quốc tế Bamenda.

Sau khi nghỉ trưa, sinh hoạt tiếp theo của Đức Thánh Cha là thánh lễ tại phi trường quốc tế Bamenda.

Trong bài giảng thánh lễ, Đức Thánh Cha nói:

Từ Nhà thờ Chính Tòa Thánh Giuse, nơi diễn ra cuộc Gặp Gỡ Vì Hòa Bình, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã trở lại Sân Bay Bamenda để chủ tọa Thánh Lễ tại đây với sự tham dự nhiệt tình và đầy hân hoan của rất nhiều tín hữu. Trong bài giảng, một lần nữa Đức Lêô XIV nói đến cuộc đấu tranh đầy gian khổ và khát vọng xây dựng hòa bình của cộng đồng thiểu số nhiều đau khổ này. Ngài nói:

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô,

Là một người hành hương vì hòa bình và hiệp nhất, tôi rất vui mừng được đến thăm vùng đất của anh chị em và trên hết, được chia sẻ hành trình, những khó khăn và niềm hy vọng của anh chị em.

Những lễ hội long trọng đi kèm với các nghi lễ phụng vụ của anh chị em và niềm vui tuôn chảy từ những lời cầu nguyện mà anh chị em dâng lên là dấu hiệu của sự phó thác tin tưởng của anh chị em cho Thiên Chúa, của niềm hy vọng vững chắc và của việc anh chị em bám chặt, bằng tất cả sức lực của mình, vào tình yêu của Chúa Cha, Đấng đến gần và nhìn với lòng thương xót những đau khổ của con cái Người. Trong Thánh vịnh, chúng ta cùng nhau hát về niềm tin tưởng vào Chúa, điều mà chúng ta được mời gọi phải làm mới hôm nay: “Chúa ở gần những người tan nát cõi lòng, và cứu những người bị vùi giập trong tinh thần” (Tv 34:18).

Thưa anh chị em, có nhiều hoàn cảnh trong cuộc sống làm tan nát trái tim chúng ta và nhấn chìm chúng ta trong đau buồn. Niềm hy vọng của chúng ta về một tương lai hòa bình và hòa giải, trong đó phẩm giá của mỗi con người được tôn trọng và các quyền cơ bản của họ được bảo đảm, liên tục bị thất vọng bởi nhiều vấn đề đang ảnh hưởng đến vùng đất tươi đẹp này. Những vấn đề đó bao gồm nhiều hình thức nghèo đói, mà ngay cả gần đây cũng đã ảnh hưởng đến rất nhiều người giữa cuộc khủng hoảng lương thực đang diễn ra. Có sự tham nhũng về đạo đức, xã hội và chính trị, thể hiện rõ nhất trong việc quản lý của cải, cản trở sự phát triển của các định chế và cơ sở hạ tầng. Chúng ta cũng thấy những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục và chăm sóc sức khỏe, cũng như tình trạng di cư quy mô lớn sang các nước ngoài, đặc biệt là giới trẻ. Thêm vào những vấn đề nội bộ này, thường được thúc đẩy bởi lòng thù hận và bạo lực, là những thiệt hại gây ra từ bên ngoài, bởi những kẻ, nhân danh lợi nhuận, tiếp tục đặt tay lên lục địa Phi Châu để bóc lột và cướp bóc.

Tất cả những điều này có thể khiến chúng ta cảm thấy bất lực và làm giảm sút lòng tự tin. Tuy nhiên, đây là thời điểm để thay đổi, để chuyển đổi câu chuyện của đất nước này. Thời điểm đã đến, hôm nay chứ không phải ngày mai, ngay bây giờ chứ không phải tương lai, để khôi phục lại bức tranh khảm thống nhất bằng cách kết hợp sự đa dạng và giàu có của đất nước và lục địa. Bằng cách này, chúng ta sẽ có thể tạo ra một xã hội nơi hòa bình và hòa giải ngự trị.

Thật vậy, khi một tình huống cứ giữ nguyên như vậy trong một thời gian, chúng ta có nguy cơ rơi vào trạng thái cam chịu và bất lực, bởi vì chúng ta không mong đợi điều gì mới mẻ. Tuy nhiên, lời Chúa mở ra những khả năng mới và mang lại sự biến đổi và chữa lành. Lời Chúa có khả năng lay động trái tim chúng ta, thách thức dòng chảy thông thường của các sự kiện mà chúng ta dễ dàng có nguy cơ quen thuộc, và biến chúng ta thành những tác nhân tích cực của sự thay đổi. Chúng ta hãy nhớ điều này: Chúa là sự mới mẻ, Chúa tạo ra những điều mới mẻ, Chúa biến chúng ta thành những người can đảm, những người bằng cách đối diện với cái ác, xây dựng nên cái thiện.

Chúng ta thấy điều này trong chứng từ của các Tông đồ, như chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ nhất. Trong khi các nhà chức trách của Tòa Công luận thẩm vấn các Tông đồ, quở trách và đe dọa họ vì họ công khai rao giảng về Chúa Kitô, họ đáp lại: “Chúng tôi phải vâng phục Thiên Chúa hơn bất cứ quyền lực nào của loài người. Thiên Chúa của tổ phụ chúng tôi đã làm cho Chúa Giêsu sống lại, Đấng mà các ông đã giết bằng cách treo Người trên cây thập giá” (Công vụ 5:29-30).

Lòng can đảm của các Tông đồ trở thành tiếng nói của lương tâm, một lời tiên tri, một sự tố cáo điều ác, và đây là bước đầu tiên hướng tới sự thay đổi. Thật vậy, vâng phục Thiên Chúa không phải là một hành động phục tùng áp bức chúng ta hay tước đoạt tự do của chúng ta; trái lại, vâng phục Thiên Chúa giải phóng chúng ta, bởi vì điều đó có nghĩa là phó thác cuộc đời chúng ta cho Người và để lời Người soi dẫn cách suy nghĩ và hành động của chúng ta. Vì vậy, như chúng ta đã nghe trong Tin Mừng, thuật lại phần cuối của cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô, “người nào thuộc về đất thì nói về những điều thuộc về đất, còn người nào đến từ trời thì ở trên hết thảy” (Ga 3:31). Những người vâng phục Thiên Chúa hơn là con người và lối suy nghĩ trần tục sẽ tìm lại được sự tự do nội tâm, khám phá ra giá trị của điều thiện và không cam chịu điều ác. Họ tìm thấy con đường mới trong cuộc sống và trở thành những người xây dựng hòa bình và tình huynh đệ.

Thưa anh chị em, sự an ủi cho những trái tim tan vỡ và niềm hy vọng về sự thay đổi trong xã hội là điều có thể nếu chúng ta phó thác bản thân cho Thiên Chúa và lời Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải luôn ghi nhớ lời khuyên của Thánh Phêrô: vâng phục Thiên Chúa, chứ không phải con người. Vâng phục Người, vì chỉ có Người mới là Thiên Chúa. Điều này kêu gọi chúng ta thúc đẩy sự hội nhập văn hóa của Tin Mừng. Nó cũng kêu gọi chúng ta phải cảnh giác, ngay cả đối với các thực hành tôn giáo của chính mình, để không rơi vào bẫy pha trộn đức tin Công Giáo với các tín ngưỡng và truyền thống khác có bản chất bí truyền hoặc ngộ đạo, mà trên thực tế thường phục vụ các mục đích chính trị và kinh tế. Chỉ có Thiên Chúa mới giải phóng chúng ta; chỉ có lời Người mới mở ra con đường tự do; chỉ có Thánh Linh của Người mới biến chúng ta thành những con người mới có khả năng thay đổi đất nước này.

Tôi luôn cầu nguyện cùng anh chị em và đặc biệt chúc phúc cho Giáo hội quy tụ tại đây: nhiều linh mục, nhà truyền giáo, tu sĩ và giáo dân, tất cả đều đang nỗ lực trở thành nguồn an ủi và hy vọng. Tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục con đường này và phó thác anh chị em cho sự cầu bầu của Đức Mẹ Maria Chí Thánh, Nữ Vương các Tông đồ và Mẹ của Giáo hội.