Bàn về cuộc tấn công của Phó tổng thống Mỹ James David Vance chê bai Đức Thánh Cha Lêô XIV giảng dậy sai lầm về thần học, tờ Catholic Herald có bài nhận định nhan đề “Vance’s misjudged clash with the Pope”, nghĩa là “Cuộc đối đầu thiếu suy xét của Vance với Đức Giáo Hoàng”. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Phản ứng gay gắt gần đây của Phó Tổng thống JD Vance đối với lời kêu gọi hòa bình thận trọng của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trong cuộc chiến tranh thảm khốc với Iran là điều không may – cho cả hai phía. Về phía các chính trị gia, sự phản ứng thiếu khôn ngoan này có vẻ hoàn toàn trẻ con và có khả năng sẽ phản tác dụng. Tòa Bạch Ốc không chỉ không thắng trong cuộc đấu tranh quyền lực về tư tưởng này, mà còn có nguy cơ đẩy các nhà chức trách Giáo hội xa lánh họ hơn và làm mất lòng cử tri Công Giáo.

Đây là một người đàn ông đã cải đạo sang Công Giáo khi trưởng thành, giờ lại đang lên lớp cho Người kế vị Thánh Phêrô là phải hết sức “cẩn thận” khi nói về thần học, như thể Đại diện của Chúa Kitô là một người mới vào nghề đang nhầm lẫn giữa lĩnh vực bàn thờ và chiến trận. Lời phàn nàn của Vance là Đức Giáo Hoàng nên tập trung vào các vấn đề đạo đức và để việc điều hành chiến tranh cho những người hiểu về chính nghĩa, nhưng trong bối cảnh chiến tranh Iran và cuộc xâm lược Li Băng của Israel, điều đó nghe giống như một cậu bé vùng vằng ném đồ chơi ra khỏi xe đẩy ngay khi bị cha khiển trách.

Chúng tôi không có ý muốn nói là giáo dân và các thế lực dân sự không bao giờ có quyền phản kháng hay khiển trách sự lạm quyền của Đức Giáo Hoàng hay giáo sĩ – họ hoàn toàn có thể. Các Hoàng đế của đế quốc Rôma đã từng làm vậy. Và trong một số trường hợp ngoại lệ, họ nên làm thế. Nhưng dù các Hoàng đế Rôma đã từng làm như vậy, người ta lại muốn khuyên Vance đừng làm thế khi Giáo hội thực sự đang đứng vững trên lập trường đạo đức cao cả, và đừng nên giao tiếp với thái độ thiếu trang trọng như vậy.

Chúng ta cần hiểu rõ những gì Đức Giáo Hoàng thực sự đã nói. Lời kêu gọi của ngài luôn nhất quán, thậm chí là ôn hòa theo bất kỳ tiêu chuẩn lịch sử nào. Đối mặt với cuộc xung đột đã gieo rắc sự tàn phá khắp Trung Đông, với sự đau khổ của thường dân ngày càng gia tăng và nguy cơ bùng nổ chiến tranh trên quy mô lớn luôn hiện hữu, giá cả leo thang và cuộc khủng hoảng quốc tế ở eo biển Hormuz khi Iran không có dấu hiệu sụp đổ hay sẵn sàng nhượng bộ, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV chỉ đơn giản nhắc lại những gì Giáo Hội luôn dạy. Cụ thể là hòa bình là kết quả của công lý, chứ không phải là sự leo thang bất tận; rằng vũ khí gieo rắc cái chết ngay cả khi được sử dụng với ý định chính đáng; và rằng Chúa không phải là biểu tượng của một bộ lạc nào đó để bất kỳ bên nào cầu khẩn khi ném bom sát hại đối phương. Ngài đã trích dẫn Kinh Thánh – đặc biệt là sách Isaiah – nhắc nhở những người quyền lực rằng Chúa không lắng nghe lời cầu nguyện của những người có bàn tay nhuốm máu người vô tội khi họ tiến hành chiến tranh. Ngài đã kêu gọi ngoại giao lấy lại vai trò đúng đắn của mình, cảnh báo chống lại vòng xoáy bạo lực trở thành vực thẳm không thể cứu vãn và bày tỏ hy vọng về một “lối thoát” trước khi lòng thù hận lan rộng hơn nữa. Đây là những lời khuyên nghiêm chỉnh, đầy tính cha con của một người mục tử nhìn nhận tổn thất về con người một cách sáng suốt hơn hầu hết các chính trị gia bị trói buộc bởi những cuốn sổ tay ghi chép. Vance, Tổng thống Trump và những người cùng phe phái tự biến mình thành trẻ con khi giả vờ rằng đó là những lời nói cuồng loạn của một nhà lý tưởng theo chủ nghĩa hòa bình.

Tất cả những điều này không phủ nhận tính chính đáng của học thuyết chiến tranh chính nghĩa – một truyền thống kéo dài từ thời Aquinas đến Augustinô và bắt nguồn từ chính luật tự nhiên. Đức Giáo Hoàng không lên án mọi hành động sử dụng vũ lực. Ngài chỉ đơn giản là từ chối chúc phúc cho cuộc phiêu lưu cụ thể này như một cuộc thập tự chinh thánh thiện, như thường lệ của Kitô hữu theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái hiếu chiến trong Đảng Cộng hòa, đặc biệt khi kết quả thực tế lại quá cay đắng: sự bành trướng chiến lược quá mức, bất ổn khu vực và số người chết mà nói thẳng ra là đang chế giễu những khẩu hiệu dễ dãi về giải phóng. Việc một phó tổng thống Công Giáo phản ứng bằng cách công khai đặt câu hỏi liệu lời nói của Đức Giáo Hoàng có “dựa trên sự thật” hay không, đồng thời viện dẫn Chiến tranh Thế giới thứ hai như thể nó đã giải quyết mọi xung đột hiện đại, là làm giảm lý lẽ đạo đức sâu sắc xuống thành lời lẽ bắt bẻ. Điều này khiến chính quyền trông có vẻ nhạy cảm, thậm chí là độc ác, như thể bất kỳ tiếng nói nào kêu gọi kiềm chế đều phải bị dập tắt ngay lập tức để những người tín hữu không nhận ra rằng hoàng đế không mặc quần áo. Nếu công chúng vẫn chưa quyết định về cuộc chiến, phản ứng thái quá này sẽ không làm cho họ ủng hộ hơn.

Tệ hơn nữa, cuộc tranh cãi này phơi bày sự nhầm lẫn sâu sắc hơn về mối quan hệ đúng đắn giữa trật tự tâm linh và trật tự thế tục – một sự nhầm lẫn mà Giáo hội đã làm sáng tỏ nhiều lần, đặc biệt là trong giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII. Trong thông điệp Immortale Dei hay Công Trình Bất Diệt Của Thiên Chúa, Vị Giáo Hoàng vĩ đại đó đã nhắc nhở thế giới rằng xã hội được cấu thành từ hai quyền lực riêng biệt nhưng hài hòa: Giáo hội, chăm lo cho số phận vĩnh cửu của các linh hồn, và chính quyền dân sự, cai quản lợi ích chung thế tục. Chúng là những thực thể riêng biệt nhưng cùng cộng tác dưới sự hướng dẫn của Chúa, mỗi bên cai trị phạm vi của mình. Tuy nhiên, Đức Lêô XIII không phải là người theo chủ nghĩa tách biệt tự do. Ngài nhấn mạnh rằng hai quyền lực này, mặc dù riêng biệt, nhưng chồng chéo một cách tự nhiên bởi vì con người không phải là một linh hồn không có thân xác cũng không phải là một loài động vật kinh tế đơn thuần. Giáo hội có quyền và nghĩa vụ hình thành lương tâm, công bố luật luân lý và phán xét hành vi của những người cai trị khi những hành vi đó liên quan đến công lý, sự thiêng liêng của sự sống hoặc hòa bình quốc gia. Ngài viết: “Phải có một mối liên hệ phù hợp và có trật tự nhất định giữa hai quyền lực”, tương tự như linh hồn và thân xác trong con người. Linh hồn không điều khiển từng cử động nhỏ nhất của cơ thể, nhưng cơ thể cũng không ra lệnh cho linh hồn về điều gì là đúng hay là tốt.

Thông điệp Rerum Novarum hay Tân Sự và các thông điệp xã hội khác của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII mở rộng nguyên tắc này vào thực tiễn. Giáo hội không có ý định điều hành chính sách đối ngoại hay soạn thảo chiến lược quân sự; điều đó thuộc về sự khôn ngoan của các chính khách. Nhưng Giáo hội không thể im lặng khi chính sách đi vào lãnh địa đạo đức nghiêm trọng – khi chiến tranh có nguy cơ trở nên không cân xứng, khi lòng thù hận bị thổi bùng lên thay vì kiềm chế, khi kẻ yếu bị chà đạp dưới tham vọng địa chính trị. Bảo Đức Giáo Hoàng “hãy tập trung vào thần học” như thể thần học không có gì để nói về việc đổ máu, việc thực thi công lý hay việc theo đuổi hòa bình đích thực là làm sống lại sai lầm cũ của Gallican hay Erastian: quan niệm rằng Giáo hội là một vấn đề hoàn toàn nội bộ, hữu ích cho việc sùng kính cá nhân nhưng không liên quan khi các vị vua hoặc tổng thống quyết định hành quân.

Khi đà phát triển văn hóa của Công Giáo ngày càng mạnh mẽ, thật khó để thấy điều này là điềm lành cho phong trào MAGA. Nhiều người Công Giáo ủng hộ nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump không phải vì họ nhầm tưởng ông là một vị thánh hoàn hảo, mà vì ông hứa hẹn chống lại sự điên rồ của chủ nghĩa toàn cầu, bảo vệ thai nhi và chống lại sự tan rã văn hóa. Những lời công kích thiếu thiện chí nhằm vào Đức Thánh Cha có nguy cơ làm mất lòng chính những tín hữu vẫn tin rằng Đức tin không phải là một thương hiệu lối sống phải bị lệ thuộc vào thông điệp đảng phái. Những lời công kích của Vance cung cấp vũ khí cho những người Công Giáo cấp tiến, là những người vốn đã coi đạo lý chính thống chỉ là trò hề trong cuộc chiến văn hóa. Những lời công kích ấy khiến phe cánh hữu trông có vẻ phản ứng thụ động và thiếu nghiêm chỉnh đối với chính những vấn đề – sự sống, gia đình, tự do có trật tự dưới sự che chở của Chúa – là những khía cạnh mà lẽ ra họ phải dẫn đầu. Và những lời của Vance xác nhận sự nghi ngờ, vốn đã lan rộng trong những người theo chủ nghĩa truyền thống, rằng đối với một số người trong chính quyền Trump, Công Giáo chỉ là một di sản hữu ích hơn là một thẩm quyền sống động mà ngay cả những người quyền lực cũng phải quỳ gối. MAGA và Giáo hội nên là đồng minh. Nhưng đó không phải là một liên minh bình đẳng.

Lĩnh vực hoạt động của Giáo hội quả thực trước hết và trên hết là về đạo đức và tâm linh. Giáo hội không còn chỉ huy quân đội nữa. Nhưng chính vì mối quan tâm của Giáo hội là linh hồn của thể chế chính trị, nên Giáo hội không thể bị loại bỏ khỏi diễn đàn công cộng bất cứ khi nào tiếng nói của Giáo hội gây bất tiện cho những người có quyền lực. Lời kêu gọi hòa bình của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trong cuộc xung đột Iran đầy đau thương này là khôn ngoan, dựa trên Kinh Thánh và cần thiết về mặt mục vụ. Việc đáp lại những lời kêu gọi đó bằng thái độ ương bướng như trẻ con không mang lại lợi ích gì cho chính quyền. Điều đó cho thấy sự thất bại trong việc nắm bắt được sự hiểu biết sâu sắc cổ xưa của Công Giáo rằng quyền lực đích thực – dù là của Đức Giáo Hoàng hay của Tổng thống – được thực thi một cách cao quý nhất khi nó nhận ra giới hạn của mình và tôn trọng luật lệ cao hơn mà từ đó mọi quyền lực chính đáng đều bắt nguồn.

Người Mỹ nên suy ngẫm về điều này. Lòng trung thành với đức tin của tổ tiên vượt lên trên lòng trung thành bầu cử và đòi hỏi sự khiêm nhường để chấp nhận sự sửa sai, ngay cả - và đặc biệt là - khi sự sửa sai đó đến từ Rôma.


Source:Catholic Herald