SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân

Nhà Xuất Bản Ignatius Press San Francisco

PHẦN II Nguồn gốc của Lạm dụng Tình dục bởi Giáo sĩ


Chương 12. Vai trò của các phong trào bất đồng chính kiến có tổ chức

Những người Thệ Phản không hài lòng với giáo phái của mình có thể chuyển sang giáo phái khác, điều này giải thích tại sao có tương đối ít phong trào bất đồng chính kiến có tổ chức trong các giáo hội Thệ Phản. Nhưng đối với những người Công Giáo bất mãn, nhiều người trong số họ vẫn ở nguyên vị trí, có rất nhiều tổ chức bất đồng chính kiến mà họ có thể tham gia. Tất nhiên, họ luôn có thể rời bỏ Giáo hội, và nhiều người đã làm vậy, nhưng đối với các linh mục và nữ tu không hài lòng, một số người thà ở lại và chiến đấu hơn là bỏ cuộc. Họ biết quyền lực nằm ở đâu, và nó không nằm ở giáo hội Thệ Phản chính giòng gần đó.

Năm 1970, tại Đại học Công Giáo Hoa Kỳ, đã có một hội nghị về tôn giáo và đồng tính luyến ái do Tiến sĩ John R. Cavanaugh, một nhà tâm lý học Công Giáo, tổ chức. Những người bất đồng chính kiến và những phần tử cực đoan bên ngoài đã làm gián đoạn chương trình, đưa ra một số yêu cầu. Họ kết luận bằng cách quy trách nhiệm cho “Giáo Hội Công Giáo và định chế tâm thần học về các tội ác chính trị chống lại người đồng tính”. Ví dụ, họ nói, “mỗi vụ tự tử của người đồng tính đều là một vụ ám sát chính trị.” (1) Ủng hộ chương trình nghị sự của họ là Thừa tác vụ New Ways và nhiều tổ chức của các nữ tu, linh mục và tu sĩ bất đồng chính kiến, cũng như Hội Thần học Công Giáo Hoa Kỳ và một số bệnh viện Công Giáo và các chi nhánh cấp tiểu bang của Tổ chức Từ thiện Công Giáo. (2)

Thập niên 1970 được chứng minh là thập niên then chốt nhất trong sự trỗi dậy của hoạt động vận động cho quyền lợi người đồng tính trong Giáo hội. Không phải ngẫu nhiên, đó cũng là thập niên mà các linh mục lạm dụng tình dục hoành hành. Năm 1974, Dayton, Ohio, là nơi diễn ra Hội nghị Quốc gia đầu tiên về Mục vụ Đồng tính, với sự tham dự của nhà hoạt động đồng tính Brian McNaught, Cha Paul Shanley, Cha John O’Neill và Sơ Jeannine Gramick. Cũng trong năm đó, Liên đoàn Hội đồng Linh mục Quốc gia tuyên bố ủng hộ quyền của người đồng tính và chấm dứt các luật hình sự hóa đồng tính luyến ái. (3) Hai năm sau, hàng chục tổ chức Công Giáo, bao gồm nhiều giáo phận và dòng nữ tu, tuyên bố ủng hộ Dignity, một nhóm người đồng tính Công Giáo bác bỏ giáo huấn của Giáo hội về tình dục. (4)

Không tổ chức nào làm nhiều hơn để tập hợp người Công Giáo chống lại đạo đức tình dục của Giáo hội hơn Call to Action. Tổ chức này được thành lập vào năm 1976 bởi Dan và Sheila Daley, lúc đó là một linh mục và một nữ tu. Họ yêu nhau, từ bỏ vai trò của mình và kết hôn. Họ truyền cảm hứng cho một lượng lớn người theo dõi, nhiều người trong số đó là linh mục và nữ tu, và hướng nỗ lực của họ vào việc gây áp lực công khai lên Giáo hội để áp dụng những thay đổi sâu rộng. Họ nhận được sự ủng hộ lớn từ Hồng Y John Dearden của Detroit và Hồng Y Joseph Bernardin của Chicago, cả hai đều thúc đẩy chương trình nghị sự của họ. Dearden chủ trì hội nghị năm 1976, và 64% số người tham dự là nhân viên của Giáo hội.(5) Sự bất đồng chính kiến giờ đây đã trở thành xu hướng chủ đạo trong Giáo Hội Công Giáo.

Năm 1989, tổ chức Call to Action đăng quảng cáo trên các tờ báo khắp cả nước nhằm thu thập một trăm nghìn chữ ký ủng hộ những phản đối của họ đối với giáo huấn của Giáo hội về việc phong chức và tình dục, cũng như yêu cầu sự tham gia nhiều hơn của giáo dân. Hai năm sau, họ chỉ thu được hai mươi mốt nghìn chữ ký, (6) nhưng tác động của họ vượt xa con số đó.

Năm 1996, Sơ Maureen Fiedler tin chắc rằng bà có thể làm được điều mà Call to Action không thể. Chiến dịch kiến nghị của bà, “Chúng ta là Giáo hội”, nhằm mục đích thu thập một triệu chữ ký của người Công Giáo kêu gọi những thay đổi triệt để trong giáo huấn của Giáo hội về phụ nữ và tình dục. Quỹ Ford đã gửi cho bà hàng triệu đô la thông qua tổ chức Catholics for Choice. Và Fiedler đã trả cho trẻ em một đô la cho mỗi chữ ký mà chúng thu được. Sau một năm, kết quả đã có: ba mươi bảy nghìn chữ ký đã được thu thập.(7) Bà đã sai lệch tới 96%. Đó lại là một thất bại thảm hại khác. Fiedler đổ lỗi cho giáo dân vì không đủ thông minh để ủng hộ bà. Bà đồng ý với nhận định rằng những người theo chủ nghĩa tiến bộ “đánh giá quá cao sự trưởng thành về thần học Công Giáo và đánh giá thấp lòng mộ đạo của giáo dân Công Giáo”. (8)

Dignity và Thừa tác vụ New Ways là những tổ chức bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất ủng hộ chương trình nghị sự của người đồng tính. Họ tự nhận mình là người Công Giáo mặc dù công khai chống lại giáo huấn của Giáo hội về tình dục. Giống như Call to Action, họ được tài trợ hào phóng bởi các nguồn bên ngoài, chẳng hạn như Arcus Foundation, một tổ chức từ thiện cánh tả. (9)

Dignity đã có một số thành công ban đầu trong việc giành được sự ủng hộ bên trong Giáo Hội Công Giáo. Vào cuối những năm 1970, một nhân viên chủ chốt tại Văn phòng Quan hệ Công chúng và Thông tin của hội đồng giám mục là chủ tịch chi nhánh Washington, D.C. của tổ chức Dignity. (10) Năm 1980, các lãnh đạo của tổ chức này đã sắp xếp một cuộc gặp với Tổng Giám mục John Quinn của San Francisco và Giám mục Roger Mahony của Stockton và tuyên bố hài lòng với kết quả. (11) Đầu những năm 1980, Dignity tự hào tuyên bố rằng họ có 1,600 giám mục, linh mục, nữ tu và giáo dân từ Hoa Kỳ ủng hộ. (12) Không có gì đáng ngạc nhiên khi Cha Paul Shanley là linh mục quản nhiệm của chi nhánh Dignity ở New York, cho thấy mối liên hệ giữa sự bất đồng chính kiến và vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Ngày nay, Dignity tiếp tục kêu gọi những thay đổi trong Giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về đồng tính luyến ái và tiếp quản chính nghĩa của người chuyển giới, mặc dù vấn đề này không còn thu hút sự chú ý của giới chức Công Giáo như những năm 1970 và 1980, hai thập niên chứng kiến nạn lạm dụng tình dục của giáo sĩ gia tăng. Mối liên hệ này không phải là ngẫu nhiên.

Thừa tác vụ New Ways được thành lập năm 1977 bởi Cha Robert Nugent và Sơ Jeannine Gramick. Theo một tuyên bố năm 2010 của Hồng Y Francis George, khi đó là chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, “những câu hỏi nghiêm túc đã được đặt ra về việc nhóm này tuân thủ giáo huấn của Giáo hội về đồng tính luyến ái”. (13) Cũng trong năm 1977 đó, Rembert Weakland được tấn phong tổng giám mục Milwaukee, và bốn năm sau, ông đã tổ chức một buổi tĩnh tâm cho tổ chức này.(14) Nugent có mối quan hệ mật thiết với hội đồng giám mục vào đầu những năm 1980, và ông đã khai thác mối quan hệ đó một cách hiệu quả: ông đã viện dẫn nó khi phát biểu ủng hộ đồng tính luyến ái.(15) New Ways cũng thâm nhập vào các chủng viện trong thời gian này, đặc biệt là ở khu vực Washington, D.C., thúc đẩy sự bất đồng chính kiến trong lớp học.(16)

Điều này không làm hài lòng tổng giám mục Washington James Hickey. Ngài đã gửi một bức thư cho tất cả các giám mục Công Giáo, cảnh báo họ rằng nhóm này bác bỏ giáo huấn của Giáo hội chống lại các hành vi đồng tính luyến ái. Tuy nhiên, các linh mục và nữ tu bất đồng chính kiến đã tìm cách làm suy yếu ngài; họ là những người ủng hộ lớn nhất của New Ways và Dignity. (17) Năm 1984, Hickey từ chối cho New Ways bất cứ sự ủy quyền hoặc phê duyệt chính thức nào đối với các hoạt động của tổ chức này và cấm Nugent và Gramick tiếp tục công việc của họ trong tổng giáo phận của ngài. Đồng thời, họ bị cấp trên ra lệnh ngừng ngay lập tức chương trình nghị sự ủng hộ đồng tính luyến ái của họ. Họ từ chức khỏi các vị trí lãnh đạo nhưng vẫn tiếp tục làm việc cho New Ways một cách thách thức. Trên thực tế, vào năm 1997, Nugent là cố vấn cho Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ về tài liệu mục vụ liên quan đến đồng tính luyến ái, Always Our Children. (18)

Năm 1999, Bộ Giáo lý Đức tin đã vĩnh viễn cấm Nugent và Gramick tham gia bất cứ hoạt động mục vụ nào với người đồng tính, nhưng họ vẫn tiếp tục công việc vận động của mình. Chính khi họ công khai chỉ trích Giáo hội vì đã bảo vệ định nghĩa hôn nhân, là giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà Hồng Y George đã đưa ra tuyên bố năm 2010 của mình. Tờ báo này nói rằng “Thừa tác vụ Những Con Đường Mới không được Giáo Hội Công Giáo chấp thuận hay công nhận” và rằng “họ không thể phát ngôn thay mặt cho các tín hữu Công Giáo ở Hoa Kỳ.” (19) Tuy nhiên, điều này vẫn không đủ để ngăn Thừa tác vụ Những Con Đường Mới trao giải thưởng cho Cha James Martin vào năm 2016 vì công việc của ngài với người đồng tính, và chắc chắn cũng không ngăn được Cha Martin nhận giải thưởng đó.

Tờ National Catholic Reporter

Các nữ tu, linh mục và giáo dân bất đồng chính kiến dựa vào tờ National Catholic Reporter để tìm kiếm thông tin. Tờ báo này ảnh hưởng và củng cố quan điểm của các giảng viên cánh tả tại các trường cao đẳng và đại học Công Giáo, cũng như nhiều người làm việc cho Giáo hội. Nhiều tác giả của tờ báo này bác bỏ giáo huấn của Giáo hội về hôn nhân, tình dục, thụ phong linh mục và độc thân của linh mục, và bằng cách đó, họ đã vô tình truyền cảm hứng cho những kẻ lạm dụng tình dục tìm kiếm sự hợp pháp từ các nguồn Công Giáo. Khi những kẻ lạm dụng tình dục đổ lỗi cho các vấn đề tình dục của họ là do giáo huấn đạo đức Công Giáo—điều này thật vô lý—họ tìm thấy sự ủng hộ trên các trang báo của National Catholic Reporter. Trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, các giám mục đã đưa ra một tuyên bố nói rằng phá thai là vấn đề quan trọng hàng đầu mà người Công Giáo cần xem xét. Nhưng tờ Reporter lại không đồng ý: “Kiểu xuyên tạc thông điệp Tin Mừng và giáo huấn về công bằng xã hội của Giáo hội như vậy là một ví dụ về điều mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô mô tả là một ‘sai lầm tư tưởng có hại’”. Tờ báo này gọi tuyên bố của các giám mục là “một sự ủng hộ trá hình không chỉ đối với Đảng Cộng hòa mà còn đối với chính quyền Trump”. (20) Vấn đề phá thai có ý nghĩa rất nhỏ đối với tờ báo này đến nỗi nó đã trao giải Nhân vật nổi bật của năm 2019 cho Dân biểu Nancy Pelosi, một người ủng hộ mạnh mẽ việc phá thai theo yêu cầu. (21)

Năm 2020, Jamie Manson, người “đã dành hơn một thập niên để thách thức giáo huấn của hàng giáo phẩm về việc phong chức cho phụ nữ, tiếp cận biện pháp tránh thai, phá thai, tự do tôn giáo và các vấn đề LGBTQ”, đã được bổ nhiệm làm chủ tịch mới của Catholics for Choice. (22) Việc bà đã viết chuyên mục cho tờ Reporter trong mười hai năm đã xóa bỏ mọi nghi ngờ về chương trình nghị sự của tờ báo. Không có gì ngạc nhiên khi những kẻ thù của Giáo Hội Công Giáo ca ngợi “sự độc lập” của nó. Tờ National Catholic Reporter được thành lập tại Kansas City, Missouri vào năm 1964. Ngay cả khi đó, nó chỉ mang tên Công Giáo. Giám mục Charles Helmsing của Kansas City—St. Joseph đã nhanh chóng yêu cầu các biên tập viên bỏ từ "Công Giáo" khỏi tiêu đề. Nhưng họ từ chối. Năm 2002, tôi đã tranh luận với Tom Roberts, một trong những biên tập viên hàng đầu của tờ báo, trên truyền hình. Tôi nói: "Những người như Roberts, ở tờ National Catholic Reporter, họ chẳng tin vào bất cứ điều gì Giáo Hội Công Giáo nói về vấn đề tình dục cả, nên dĩ nhiên ông ta không muốn nói về đồng tính luyến ái." Người điều hành, Mike Barnicle, đã ngắt lời tôi. "Khoan đã, Bill, làm ơn. Tom, nói tiếp đi. Ý tôi là, anh vừa mới bị tát vào mặt, nói tiếp đi.” Roberts đáp lại, “Tôi sẽ không nói tiếp đâu.” (23) Làm sao ông ta có thể? Những gì tôi nói là sự thật không thể chối cãi.

Theo Cha Paul Shaughnessy, Roberts là một trong những nhà phê bình Giáo hội thường xuyên tấn công các giám mục, đe dọa họ không dám lên tiếng về vai trò của đồng tính luyến ái trong vụ tai tiếng. (24) Ngài viết: “Những người theo chủ nghĩa tự do thường từ chối thừa nhận vai trò của chính họ trong việc tạo ra vấn đề linh mục đồng tính, và thường cố gắng đổ lỗi cho người khác.”

Năm 2008, tờ National Catholic Reporter đã chứng minh những người chỉ trích bảo thủ của mình là đúng khi ủng hộ một cuốn sách của hai nhà thần học Công Giáo, The Sexual Person (Người có đời sống tình dục). Cuốn sách lập luận rằng giáo huấn của Giáo hội về đồng tính luyến ái, và tất cả các vấn đề khác về tình dục, đều sai; một trong những tác giả đứng đầu khoa thần học tại Đại học Creighton, một trường dòng Tên. Cuốn sách bị Ủy ban Giáo lý của các giám mục đánh giá là “trái với giáo lý Công Giáo”, (25) nhưng Regina Schulte, viết trên tờ Reporter, cho rằng cuốn sách là một nỗ lực “mang đến những hiểu biết của giáo dân về chủ đề tình dục con người”. Sẽ trung thực hơn nếu nói rằng đó là một nỗ lực nhằm phá hoại đạo đức tình dục của Giáo hội. Tiêu đề bài viết của Schulte, “Về tình dục, hàng giáo phẩm đã chiếm đoạt toàn bộ chức vụ giảng dạy”, (26) cho thấy tờ báo đã bác bỏ Giáo huấn của Giáo hội.

Tờ National Catholic Reporter không chỉ đơn thuần thách thức giáo huấn của Giáo hội về tình dục; nó còn đóng vai trò là kênh truyền đạt cho các nữ tu bất đồng chính kiến thuộc Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu (LCWR). Sau khi Vatican thông báo vào tháng 1 năm 2009 rằng Thánh Bộ Giáo lý Đức Tin đang tiến hành đánh giá giáo lý của Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu, tờ báo này đã trở thành nơi trú ẩn của các nữ tu bất đồng chính kiến và thường xuyên rò rỉ thông tin mật về cuộc điều tra của Vatican. (27) Quỹ Hilton đã chống lại Giáo Hội Công Giáo bằng cách tài trợ cho cả tờ Reporter và Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu: có thông tin vào năm 2014 cho rằng quỹ này đã tài trợ cho tờ báo 2.3 triệu đô la để quảng bá hình ảnh tích cực về các nữ tu bất đồng chính kiến. (28)

Các nữ tu bất đồng chính kiến

Quyết định của Vatican về việc đánh giá các vấn đề giáo lý trong số các nữ tu ở Hoa Kỳ không phải là một quyết định bốc đồng. Thành thật mà nói, sự bất đồng chính kiến đã là một đặc điểm trung tâm của nhiều dòng nữ tu kể từ những năm 1960. Vai trò của họ trong việc làm suy yếu các giáo huấn của Giáo hội về tình dục, và trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho các linh mục gặp rắc rối, là không thể chối cãi.

Năm 2001, Vatican đã khiển trách Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu vì cách giải thích các giáo huấn của Giáo hội về nhiều chủ đề, từ đồng tính luyến ái đến vai trò cứu rỗi của Chúa Giê-su. (29) Đương nhiên, các nữ tu bất đồng chính kiến đã tự nhận mình là nạn nhân, cáo buộc Giáo hội đàn áp. Tuy nhiên, khi diễn giả chính tại hội nghị Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu năm 2007, Sơ Laurie Brink, O.P., lưu ý rằng một số dòng nữ tu đã “vượt ra ngoài Chúa Giê-su” để trở thành “hậu Kitô giáo”, thì Rome được mong đợi sẽ làm gì? (30) Khi các nữ tu tự tạo ra phụng vụ của riêng họ, bằng cách thay thế “Nguồn gốc của mọi sự” cho “Chúa Cha” và thay thế “Chúa Con” bằng “Ngôi Lời vĩnh hằng”, rõ ràng là họ đã quyết định rời bỏ Giáo hội. (31) Nhưng thực ra không phải vậy: mặc dù họ đã “vượt ra ngoài Chúa Giê-su”, họ vẫn thoải mái ở lại trong các định chế Công Giáo.

Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu tuyên bố có khoảng 1,500 nhà lãnh đạo đại diện cho 80% nữ tu của quốc gia. Hầu hết các nữ tu chỉ đơn giản là phớt lờ bảng câu hỏi của Vatican, và một số người thấy nó sử dụng ngôn ngữ “bạo lực”. (32) Khi báo cáo được công bố vào năm 2012, người ta đã phát hiện ra những sai lầm nghiêm trọng về giáo lý, cũng như những tuyên bố có vấn đề của các thành viên Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu. Bản báo cáo chỉ trích Thừa tác vụ New Ways vì đã thúc đẩy chương trình nghị sự của người đồng tính và lên án những người theo chủ nghĩa duy nữ cực đoan vì những tuyên bố của họ về Chúa Giêsu. (33) Đúng như dự đoán, các nữ tu cực đoan cho biết họ rất sửng sốt, và tờ National Catholic Reporter gọi bản báo cáo là một nỗ lực “kiểm soát tư tưởng”. (34) Tờ New York Times cũng lên tiếng, đứng về phía Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu. Tờ báo cho biết “phần lớn giáo dân Công Giáo đã bày tỏ sự phẫn nộ” về cuộc điều tra của Vatican. (35) Điều này hoàn toàn vô lý. Hầu hết người Công Giáo không hề biết rằng có một cuộc điều tra như vậy, và nếu họ biết có bao nhiêu nữ tu đã “vượt ra ngoài Chúa Giêsu”, họ có thể đã tự hỏi tại sao Vatican không điều tra vấn đề này sớm hơn.

Nếu những người Công Giáo trong Giáo hội biết nhiều hơn về những gì đang xảy ra với Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu, nhiều người sẽ đứng về phía Raymond Arroyo. Ông nói: “Thay vì một cuộc đàn áp, Vatican đang yêu cầu Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu cầu nguyện trở về cội nguồn và lý do thành lập các viện dòng tu của họ. Những tu viện này không được thành lập cách đây 100 đến 200 năm để biểu tình và chống lại giáo lý của Giáo hội hoặc các giám mục.” Họ được thành lập để phục vụ anh chị em một cách trung thành trong toàn xã hội theo tinh thần của Chúa Kitô.” (36)

Những nhận xét của Arroyo không phải là sự phóng đại. George Weigel đã lưu ý đến một điều mà tôi đã chứng kiến tận mắt: “Một số cộng đồng nữ tu Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu không còn tham gia Thánh Thể thường xuyên nữa, bởi vì họ không thể chịu đựng được ‘chế độ tổ phụ’ của một linh mục nam chủ tế Thánh lễ. Do đó, các buổi lễ Thánh Thể giả do một nhóm phụ nữ cử hành không phải là điều hiếm gặp trong các cộng đồng này.” Weigel cũng chỉ trích Hội nghị Lãnh đạo Nữ tu vì đã tự nhận mình “chỉ là một phiên bản hiện đại hóa của The Bells of St. Mary’s”. (37) Các nữ tu bất đồng chính kiến như Elizabeth Johnson, người giảng dạy tại Đại học Fordham, thú nhận rằng họ “sẽ không hề phản đối nếu chúng tôi chỉ đơn giản bỏ đi chữ ‘Ba Ngôi’”. (38)

Sẽ là sai lầm và hoàn toàn không công bằng nếu nói rằng không có những nữ tu tuyệt vời, những người cống hiến bản thân một cách vị tha, giúp đỡ những người cần giúp đỡ và phục vụ Giáo hội với lòng tận tụy và hiệu quả cao. Có rất nhiều dòng nữ tu xuất sắc tiếp tục truyền thống vĩ đại của các nữ tu đã làm rất nhiều công việc cao cả ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới. Tin tốt là các dòng tu có nhiều người bất đồng chính kiến đang sụp đổ, trong khi các dòng tu chính thống vẫn giữ vững vị thế của mình, nếu không muốn nói là đang phát triển, và nhiều dòng tu mới được thành lập gần đây. Theo một nguồn tin, “Những dòng tu thành công thường có một số đặc điểm chung, chẳng hạn như mặc áo dòng, sống và cầu nguyện cùng nhau trong cộng đồng, và trung thành với quyền giảng dạy của Giáo hội.” (39)

Thật không may, như tôi đã chứng kiến nhiều lần hơn tôi muốn nghĩ đến, các nữ tu trung thành thường bị các nữ tu cấp tiến chế giễu và nhạo báng, một số người trong số họ gọi họ là "cành cây khô". Tương tự, tôi đã gặp những nữ tu mặc áo dòng nghiêm túc giữ lời thề nhưng lại phải chịu đựng sự chỉ trích từ những người chị em đã từ bỏ Công Giáo để thờ cúng ngoại giáo.

Thật vậy, tôi biết một vài phụ nữ đã rời bỏ dòng tu của họ vì những người phụ nữ sống cùng họ khiến việc tuân theo quy tắc sống gần như không thể.

Nếu các nữ tu cấp tiến không bị tha hóa bởi chủ nghĩa duy nữ cực đoan của họ, họ sẽ ca ngợi một người phụ nữ đã đứng lên chống lại các giám mục và để lại dấu ấn trong truyền thông trên toàn thế giới. Nhưng thay vào đó, họ lại căm ghét Mẹ Angelica. Bà là một nữ tu chính thống, và không có chỗ cho những người như bà trong điện thờ các nữ tu của họ. Tương tự, trong khi Thánh Teresa Calcutta được yêu mến trên toàn thế giới vì sự giúp đỡ những người bị tước đoạt, một số nữ tu duy nữ lại không coi trọng bà. Khi tôi yêu cầu chủ sở hữu của Tòa nhà Empire State thắp sáng các tòa tháp của tòa nhà mang tính biểu tượng này bằng màu xanh lam và trắng để tôn vinh việc kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thánh Teresa, Liên minh Phụ nữ vì Thần học, Đạo đức và Nghi lễ cùng Liên minh Quốc gia các Nữ tu Hoa Kỳ đã ký một bức thư ủng hộ chủ sở hữu, người đã từ chối tôi (cũng chính là người đàn ông tôn kính kẻ giết người hàng loạt Mao Trạch Đông). (40)

Các nữ tu bất đồng chính kiến đã góp phần vào vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ bằng cách truyền bá một thông điệp dị giáo về các vấn đề tình dục, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các linh mục bệnh hoạn. Những lời phàn nàn của các nữ tu về “chế độ tổ phụ áp bức” đã củng cố cho những kẻ lạm dụng tuyên bố rằng các thẩm quyền Giáo hội và đạo đức Công Giáo đã gây ra các vấn đề tình dục của họ.

Trước khi tội ác của ông ta bị phơi bày, Cha Paul Shanley là người được nhiều người Công Giáo tiến bộ yêu mến, những người đang thúc đẩy Giáo hội chấp nhận hành vi đồng tính luyến ái. Sơ Jeannine Gramick cho rằng Shanley đã “thúc đẩy bà tham gia hoạt động”.(41) Năm 2005, sau khi bày tỏ sự kinh hoàng trước hành vi lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên của Shanley, Gramick nói với tờ National Catholic Reporter rằng bà “đau buồn vì người đàn ông này mà tôi đã không gặp trong gần như 20 năm, nhưng tôi đã tán dương những nguyên tắc và sự bênh vực của ông ấy dành cho những người bị áp bức trong ba thập niên”. (42)

Nhà báo Maureen Orth đã phản hồi lại lời bào chữa đáng xấu hổ của Gramick, kể lại rằng chín nạn nhân của Shanley mà bà đã phỏng vấn giải thích cách vị linh mục hippie hướng dẫn họ “sử dụng” cơ thể của ông ta. Orth chỉ ra rằng Gramick chưa bao giờ nói chuyện với bất cứ nạn nhân nào của Shanley. (43) Mặc dù nhiều người Công Giáo tiến bộ đã xa lánh Gramick sau sự việc này, Cha James Martin không chỉ đón nhận bà mà còn tuyên bố vào năm 2017 rằng ông muốn “phong thánh” cho bà. (44)

Tôi chưa bao giờ nghe thấy một người bất đồng chính kiến nào liên kết sự bất đồng giáo huấn của Giáo hội với hành vi quấy rối tình dục của các linh mục. Tôi chỉ nghe thấy những người bất đồng chính kiến đổ lỗi cho những người Công Giáo bảo thủ vì đã bảo vệ đạo đức tình dục truyền thống. Nhưng những người như Shanley trong Giáo hội đã không lấy cảm hứng từ những người bảo thủ. Không, họ tìm thấy chúng trong lời nói của những người thách thức giáo huấn của Giáo hội, bao gồm cả những người trên các trang của National Catholic Reporter, tờ báo đã ca ngợi Shanley ít nhất ba lần vì sự bênh vực của ông, ngay cả sau khi tội ác của ông ta bị phơi bày. (45)

Còn tiếp