Sự phân hóa về Trí tuệ Nhân tạo

Cạnh tranh Mỹ-Trung có thể khiến hầu hết các quốc gia bị tụt hậu

Hội nghị Internet Thế giới tại Tongxiang, Trung Quốc, tháng 11 năm 2025Tingshu Wang / Reuters


Hai tác giả Sam Winter-Levy và Anton Leicht (*), trong bản tin ngày 10 tháng 2 năm 2026 của tạp chí Foreign Affairs, nhận định rằng: Tương lai của trí tuệ nhân tạo sẽ do Hoa Kỳ và Trung Quốc kiểm soát. Hai quốc gia này sử dụng 70% các nhà nghiên cứu máy học hàng đầu thế giới, nắm giữ 90% sức mạnh tính toán hoàn cầu và thu hút phần lớn đầu tư vào AI—nhiều hơn gấp đôi tổng số của tất cả các quốc gia khác cộng lại. Trong các cuộc cách mạng kỹ thuật trước đây, các cường quốc không đi đầu có thể dần dần áp dụng các khả năng mới và bắt kịp. Nhưng cuộc cách mạng AI sẽ khác, đẩy các quốc gia đó vào một cái bẫy chiến lược có thể biến phần lớn thế giới thành chư hầu kỹ thuật.

Cái bẫy này đặc biệt ảnh hưởng đến những quốc gia có thể được gọi là các cường quốc tầm trung về AI: các quốc gia như Pháp, Ấn Độ và Vương quốc Anh, những quốc gia có năng lực nhà nước và nguồn lực kinh tế đáng kể nhưng thiếu quy mô, vốn, năng lượng và sức mạnh tính toán để tự xây dựng các hệ thống AI tiên tiến. Các cường quốc này phải đối diện với ba thách thức chính. Thứ nhất, khả năng tiếp cận các năng lực AI tiên tiến của họ phụ thuộc vào ý muốn của các nhà hoạch định chính sách ở Washington và Bắc Kinh. Thứ hai, họ vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động gây rối loạn của AI - bao gồm mất việc làm, bất ổn xã hội và sự gia tăng tội phạm mạng được hỗ trợ bởi AI - cho dù họ có được hưởng lợi từ nó hay không. Thứ ba, họ thiếu đòn bẩy và các công cụ chính sách cần thiết để định hình sự phát triển của AI hoặc quản lý hậu quả của nó.

Sự bị gạt ra ngoài lề kéo dài không phải là điều không thể tránh khỏi. Nhưng để tránh điều đó, các cường quốc tầm trung cần phải duy trì khả năng tiếp cận các năng lực AI tiên tiến và xác định giá trị kinh tế và chiến lược mà họ có thể mang lại cho một thế giới được chuyển đổi bởi các hệ thống AI. Nhiều con đường khác nhau để đạt được những mục tiêu này vẫn còn bỏ ngỏ: một số cường quốc tầm trung có thể chọn liên minh với Hoa Kỳ hoặc Trung Quốc, một số có thể cố gắng lợi dụng mâu thuẫn giữa Washington và Bắc Kinh để giành được những nhượng bộ, và những nước khác có thể thực hiện một nỗ lực đầy tham vọng nhằm giành lấy chủ quyền công nghệ. Nhưng cuối cùng, tất cả đều phải tính toán xem nền kinh tế AI hoàn cầu sẽ trông như thế nào—và họ có thể tìm thấy đòn bẩy ở đâu trong đó.

Mắc Kẹt Ở Giữa

Ngày nay, hầu hết các cường quốc tầm trung tiếp cận AI theo cách tương tự như cá nhân: thông qua các sản phẩm thương mại và giao diện do các công ty nước ngoài cung cấp. Nhưng khả năng tiếp cận đó kém ổn định hơn so với vẻ bề ngoài. Không giống như hàng hóa sản xuất, vũ khí hoặc năng lượng, khả năng AI không thể được tích trữ. Mỗi truy vấn đến một hệ thống AI tiên tiến đều phụ thuộc vào việc truy cập thời gian thực vào cơ sở hạ tầng do một số ít các công ty ở Thung lũng Silicon kiểm soát—và cuối cùng là bởi chính phủ Hoa Kỳ, vốn có thể hạn chế quyền truy cập vào các hệ thống AI của Mỹ thông qua kiểm soát xuất khẩu hoặc trừng phạt. Sự thống trị này có thể thay đổi: Trung Quốc đang nhanh chóng xây dựng cơ sở hạ tầng của riêng mình, mặc dù vẫn còn chậm hơn vài năm. Và những cải tiến về hiệu quả cuối cùng có thể dân chủ hóa quyền truy cập: các mô hình nhỏ hơn yêu cầu ít sức mạnh tính toán hơn, điều này có thể làm giảm rào cản gia nhập. Nhưng cho đến nay, mỗi thế hệ hệ thống tiên tiến mới lại càng đòi hỏi nhiều tài nguyên hơn để vận hành, chứ không phải ít hơn.

Nếu Hoa Kỳ hoặc Trung Quốc quyết định cắt đứt quyền truy cập của một cường quốc tầm trung vào các hệ thống đặt tại lãnh thổ của mình, hậu quả hiện tại sẽ bị hạn chế vì ít dịch vụ thiết yếu nào—ví dụ như bệnh viện, lưới điện hoặc hệ thống quân sự—phụ thuộc vào trí tuệ nhân tạo tiên tiến để hoạt động. Nhưng khi trí tuệ nhân tạo ngày càng được tích hợp sâu hơn vào cơ sở hạ tầng an ninh quốc gia và kinh tế quan trọng, những rủi ro đó sẽ tăng lên. Và rủi ro này không phải là giả thuyết. Trong các lĩnh vực khác, cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều đã chứng tỏ sẵn sàng sử dụng sự phụ thuộc của các quốc gia khác như một vũ khí để tìm kiếm đòn bẩy. Trung Quốc đã nhiều lần sử dụng các hạn chế xuất khẩu đối với các nguyên tố đất hiếm và khoáng sản quan trọng như một công cụ cưỡng chế, trong khi Hoa Kỳ đã tận dụng sự phụ thuộc của châu Âu vào các đảm bảo an ninh của Hoa Kỳ để đòi hỏi các nhượng bộ thương mại và gây áp lực lên Đan Mạch về vấn đề Greenland. Ít có lý do để tin rằng Bắc Kinh và Washington sẽ kiềm chế hơn khi nói đến trí tuệ nhân tạo.

Một số cường quốc tầm trung đã cố gắng giải quyết điểm yếu này bằng cách xây dựng các trung tâm dữ liệu có thể chạy các mô hình nước ngoài trong lãnh thổ của họ, giúp họ kiểm soát tốt hơn các hệ thống đó và dữ liệu mà chúng xử lý. Các dự án được công bố gần đây đã chứng minh điều này. Các dự án tại Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Vương quốc Anh đều bao gồm các điều khoản về việc tăng cường quyền truy cập vào tài nguyên điện toán quốc gia để vận hành các hệ thống AI nước ngoài. Bởi vì những thỏa thuận này bảo toàn nguồn thu cho các công ty Hoa Kỳ trong khi ràng buộc các đồng minh chặt chẽ hơn với cơ sở hạ tầng của Mỹ, các công ty Hoa Kỳ cũng như chính phủ Hoa Kỳ đang thúc đẩy chúng thông qua các sáng kiến tư nhân như trung tâm dữ liệu Stargate của OpenAI và các chỉ thị chính sách khuyến khích xuất khẩu AI.

Tuy nhiên, việc xây dựng trung tâm dữ liệu vô cùng tốn kém và có thể không khả thi về mặt kinh tế đối với mọi quốc gia đang thực hiện chúng. Các quốc gia có tỷ lệ áp dụng AI cao, bao gồm Đức và Vương quốc Anh, phải đối diện với chi phí năng lượng cao và sự phản đối của người dân địa phương đối với các dự án cơ sở hạ tầng lớn mới, khiến việc xây dựng các trung tâm dữ liệu quy mô lớn trở nên khó khăn về mặt chính trị. Và ngay cả khi các quốc gia xây dựng các trung tâm dữ liệu trong nước, vấn đề phụ thuộc của họ vẫn sẽ tồn tại. Các mô hình AI cần được cập nhật liên tục để duy trì tính cạnh tranh, có nghĩa là bất cứ phiên bản nào chạy trên trung tâm dữ liệu quốc gia sẽ nhanh chóng bị tụt hậu nếu không được tiếp tục truy cập vào nhà cung cấp. Bản thân phần cứng điện toán—các chip tiên tiến và cơ sở hạ tầng mạng đến từ các chuỗi cung ứng do Hoa Kỳ kiểm soát—cần được bảo trì và thay thế thường xuyên. Nói cách khác, chủ quyền hoàn toàn đối với cơ sở hạ tầng AI vẫn còn khó đạt được. Việc giành quyền kiểm soát đối với chính các mô hình AI lại càng khó khăn hơn. Pháp đã cố gắng xây dựng hệ thống AI riêng thông qua công ty Mistral, và Canada cũng đã thử điều tương tự với Cohere. Chúng được thiết kế để giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và cung cấp phương án dự phòng nếu nguồn truy cập bị gián đoạn. Nhưng các hệ thống tiên tiến của Mỹ và Trung Quốc vẫn có khả năng vượt trội hơn bất cứ thứ gì mà các nhà vô địch trong nước này đã phát triển, và khoảng cách này không có dấu hiệu thu hẹp. Chừng nào điều đó còn đúng, các doanh nghiệp lớn và các cơ quan an ninh quốc gia sẽ ưu tiên các sản phẩm chất lượng cao nhất từ các nhà phát triển tiên tiến.

BỊ TỤT LÙI

Cho dù có tiếp cận được với các hệ thống AI tiên tiến hay không, các cường quốc tầm trung vẫn dễ bị tổn thương trước những mặt trái của AI, thường còn hơn cả các cường quốc. Những tác hại liên quan đến AI tiên tiến sẽ không phân biệt biên giới: lạm dụng tội phạm, triển khai quân sự bởi các đối thủ, dịch chuyển lao động và các tác động xã hội tiêu cực sẽ ảnh hưởng đến các quốc gia bất kể họ có đặt các phòng thí nghiệm AI hàng đầu hay không.

Việc phòng chống những tác hại này sẽ khó khăn hơn đáng kể nếu không có quyền truy cập trực tiếp vào các khả năng tiên tiến. Ví dụ, việc tạo ra các biện pháp phòng thủ an ninh mạng và sinh học hiệu quả ngày càng phụ thuộc vào việc duy trì mối quan hệ chặt chẽ với các nhà phát triển AI và khả năng tiếp cận đáng tin cậy với sức mạnh tính toán. Trong lĩnh vực quân sự, các cường quốc tầm trung thiếu năng lực AI có thể thấy hệ thống cũ của họ bị lép vế, không chỉ bởi các cường quốc mà còn bởi các quốc gia nhỏ hơn hoặc các chủ thể phi nhà nước có được quyền truy cập vào các công cụ AI tiên tiến. Những kẻ xâm lược này có thể đạt được năng lực AI đáng kể ngay cả khi không có quyền truy cập chính thức vào các hệ thống tiên tiến nếu, ví dụ, các cường quốc trang bị vũ khí cho các lực lượng ủy nhiệm để thay đổi cán cân khu vực, những kẻ tấn công đánh cắp những gì chúng cần thông qua các cuộc tấn công mạng, hoặc các mô hình cận biên giới tỏ ra đủ mạnh cho tấn công ngay cả khi chúng không đủ mạnh cho phòng thủ—một mối lo ngại đặc biệt khi nói đến vũ khí sinh học hoặc an ninh mạng. Nói rộng hơn, bất cứ phản ứng chính sách nghiêm túc nào đối với toàn bộ các rủi ro liên quan đến AI đều đòi hỏi sự hiểu biết rõ ràng về công nghệ và những tác động của nó từ phía các quan chức chính phủ—một sự hiểu biết khó có thể phát triển từ xa.

Các cường quốc tầm trung cũng phải đối diện với những bất lợi về cấu trúc trong việc định hình quỹ đạo của AI, ngay cả trong biên giới của chính họ. Họ sẽ có rất ít ảnh hưởng đến các quyết định phát triển và triển khai, và tính linh hoạt trong các lựa chọn chính sách cũng bị hạn chế. Sự can thiệp về mặt pháp lý của họ có rất ít trọng lượng đối với các công ty và khu vực pháp lý đang thúc đẩy kỹ thuật này, và doanh thu thuế từ các hoạt động kinh tế liên quan đến AI vẫn còn chưa chắc chắn. Từ vị trí ngoại vi, họ cũng có thể gặp khó khăn trong việc áp dụng kỹ thuật đủ nhanh để giữ cho lực lượng lao động của mình cạnh tranh với lực lượng lao động được hỗ trợ bởi AI ở nước ngoài.

Hoàn toàn đứng ngoài quỹ đạo của AI—từ bỏ cả rủi ro và lợi ích của nó—không phải là một chiến lược khả thi. Điều này là bởi vì tác động của trí tuệ nhân tạo là không thể tránh khỏi: nó sẽ định hình lại năng suất của các đối thủ kinh tế, khả năng của các đối thủ và kỳ vọng của người dân bất kể chính phủ của họ có tham gia hay không. Một cường quốc tầm trung có thể hy vọng rằng việc đứng ngoài cuộc ít nhất sẽ giúp tránh được những nguy hiểm của AI cùng với những phần thưởng mà nó mang lại. Nhưng việc gánh chịu rủi ro trong khi bỏ lỡ lợi ích là hoàn toàn có thể xảy ra. Đối với các cường quốc tầm trung, kết quả đó đại diện cho mối nguy hiểm cốt lõi.

Sự dễ bị tổn thương của các cường quốc tầm trung một phần xuất phát từ bản chất độc đáo của sự phát triển AI. Trung Quốc và Hoa Kỳ có thể hưởng lợi từ một vòng tuần hoàn tích cực, trong đó việc tiếp cận sức mạnh tính toán cho phép các chuyên gia trong nước của họ đào tạo các mô hình tốt hơn, một điều sau đó sẽ thu hút nhiều người dùng hơn và tạo ra nhiều doanh thu hơn, điều, ngược lại, sẽ tài trợ cho việc đầu tư vào sức mạnh tính toán lớn hơn nữa. Mỗi lợi thế lại tạo nên lợi thế tiếp theo. Các Kỷ thuật ít mang tính đột phá hơn đã chứng minh một phiên bản nhẹ hơn của mô hình này—việc châu Âu không nắm bắt được những lợi ích kinh tế của Internet phần nào giải thích sự suy giảm tương đối của châu Âu so với Hoa Kỳ. Các quốc gia tụt hậu về AI có thể sẽ càng khó bắt kịp hơn.

THOÁT KHỎI CẠM BẪY NÀY

Để thoát khỏi cái bẫy này, các cường quốc tầm trung phải đối diện với hai yêu cầu cấp thiết: họ phải đảm bảo quyền truy cập vào các khả năng AI tiên tiến và tìm được chỗ đứng kinh tế trong trật tự AI đang nổi lên. Quyền truy cập sẽ rất quan trọng, và có ba chiến lược thực tế để duy trì nó.

Chiến lược đầu tiên là bắt chước theo xu hướng: liên minh chặt chẽ với Hoa Kỳ hoặc Trung Quốc để đảm bảo quyền truy cập vào hệ sinh thái AI. Vương quốc Anh dường như đang theo đuổi con đường này, tìm kiếm sự liên kết ngày càng chặt chẽ hơn với ngành kỹ nghệ AI của Hoa Kỳ thông qua hợp tác về quy định và các thỏa thuận về cơ sở hạ tầng. Chiến lược này đặc biệt hấp dẫn trong một môi trường an ninh hóa, nơi mà việc truy cập đòi hỏi sự bảo trợ của các cường quốc. Nhưng nó không phải là không có rủi ro. Điều này có thể làm sâu thêm sự phụ thuộc một chiều, ngăn chặn việc tiếp cận các nhà cung cấp cạnh tranh và khiến một quốc gia dễ bị tổn thương hơn nếu thiện chí của bên bảo trợ phai nhạt – một rủi ro ngày càng trở nên nổi bật khi chính quyền Trump sử dụng việc tiếp cận kỹ thuật như một con bài mặc cả để đạt được những nhượng bộ thương mại không liên quan. Một quốc gia bị cắt đứt sau khi trở nên phụ thuộc sẽ phải đối diện với những gián đoạn dây chuyền: các doanh nghiệp dựa vào dịch vụ trí tuệ nhân tạo có thể mất chức năng chỉ sau một đêm, các cơ quan chính phủ có thể thấy các hệ thống quan trọng bị xướng cấp, và việc tìm kiếm các giải pháp thay thế có thể mất hàng tháng hoặc hàng năm – hoặc đẩy các cường quốc tầm trung hướng tới các nhà cung cấp thay thế đưa ra các điều khoản bóc lột.

Chiến lược thứ hai là phòng ngừa rủi ro: sử dụng quy mô thị trường trong nước và đòn bẩy kinh tế để đạt được các điều khoản thuận lợi từ cả hai cường quốc và thúc đẩy cạnh tranh giữa họ. Malaysia và phần lớn Đông Nam Á có lẽ đang đi theo sát nhất cách tiếp cận này, thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng trí tuệ nhân tạo và quan hệ đối tác từ cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc. Chừng nào các hệ thống vẫn tương thích và thị trường vẫn mở, việc phòng ngừa rủi ro hứa hẹn khả năng tiếp cận rẻ và ổn định. Nhưng nếu môi trường trở nên an ninh hóa hơn hoặc thế giới chia thành các khối, khả năng tiếp cận có thể bị mất. Cuộc cách mạng AI có thể đẩy phần lớn thế giới vào tình trạng lệ thuộc kỹ thuật.

Chiến lược thứ ba là thực hiện một nỗ lực giành chủ quyền thực sự, xây dựng đủ năng lực tính toán và đầu tư đủ vốn để có cơ hội thực tế phát triển các khả năng tiên tiến trong nước. Pháp và một số quốc gia khác tuyên bố đang theo đuổi con đường này, nhưng tham vọng của họ vẫn chưa đạt đến trình độ tiên tiến về năng lượng, tính toán và nhân tài. Một nỗ lực giành chủ quyền thành công về mặt lý thuyết có thể giúp một quốc gia tránh được nhiều khía cạnh của bẫy cường quốc tầm trung, nhưng nó cũng tiềm ẩn rủi ro. Một nỗ lực thiếu vốn có thể khiến một quốc gia bị mắc kẹt ở vị trí thứ hai không sinh lời, gần với trình độ tiên tiến nhưng không bao giờ đạt tới. Và ngay cả khi đạt đến trình độ tiên tiến cũng không đảm bảo lợi nhuận nếu giá trị cuối cùng được tạo ra ở nơi khác trong chuỗi cung ứng.

Sự thành công của bất kỳ chiến lược nào trong số này sẽ phụ thuộc trên hết vào việc các khả năng tiên tiến quan trọng đến mức nào so với các lựa chọn thay thế kém hơn. Điều đó lại phụ thuộc vào việc liệu những khoảng cách hiệu suất nhỏ có mang tính quyết định trong cạnh tranh kinh tế được thúc đẩy bởi AI hay không và liệu mô hình kỹ thuật có tiếp tục cho phép cái gọi là "bắt chước nhanh" - sự bắt chước hiệu quả cho phép các cường quốc tầm trung tụt hậu so với trình độ tiên tiến khoảng một năm hay không. Ngoài những bất ổn kỹ thuật này, vẫn chưa rõ liệu lập trường ủng hộ xuất khẩu của chính quyền Trump có được duy trì khi các mô hình AI trở thành tài sản an ninh quốc gia hay không, hoặc liệu các cường quốc cuối cùng sẽ an ninh hóa ngành công nghiệp AI của họ và rút các khả năng tiên tiến ra khỏi thị trường mở hay không. Trước sự không chắc chắn này, các cường quốc tầm trung nên thận trọng về việc tự trói buộc mình vào bất cứ con đường nào. Họ phải theo dõi kỹ thuật AI—và cách Bắc Kinh và Washington nhìn nhận nó—đủ sát sao để có thể xoay chuyển nếu điều kiện thay đổi. Và trong thời gian đó, họ phải giữ thái độ thận trọng. Họ không nên cam kết với bất cứ con đường nào ngăn cản việc tiếp cận các khả năng tiên tiến nhập khẩu.

Trong khi đó, Hoa Kỳ nên làm cho việc tham gia xu hướng này trở nên hấp dẫn nhất có thể để tối đa hóa thị phần (market share), doanh thu và đòn bẩy của mình đối với sự phát triển của AI. Nhưng nỗ lực như vậy sẽ mâu thuẫn với tham vọng chủ quyền của nhiều cường quốc tầm trung. Để giải quyết căng thẳng này, Washington phải làm cho việc tham gia xu hướng này có lợi và không gây đe dọa bằng cách từ bỏ những nỗ lực mạnh mẽ nhằm tận dụng quyền truy cập AI, thúc đẩy xuất khẩu các khả năng có ý nghĩa và thực hiện các tiêu chuẩn an ninh cho phép ngay cả các hệ thống tiên tiến nhạy cảm cao cũng được chia sẻ với các đồng minh.

TÌM KIẾM VAI TRÒ

Với quyền truy cập được đảm bảo, các cường quốc tầm trung phải đối diện với thách thức thứ hai. Họ phải tìm ra những vị thế kinh tế và chiến lược bền vững có thể đảm bảo sự phù hợp của mình khi tầm quan trọng của trí tuệ nhân tạo ngày càng tăng. Một khả thể là các nhập lượng thượng nguồn (upstream inputs) —các công cụ và nguồn lực cần thiết để xây dựng hệ thống trí tuệ nhân tạo, từ thiết bị sản xuất chất bán dẫn đến dữ liệu huấn luyện chất lượng cao. Một ngả khác là các nút thắt cổ chai hạ nguồn (downstream bottlenecks)—các năng lực chuyển đổi hiệu suất AI thành tác động đời thực, chẳng hạn như robot và sản xuất tiên tiến. Và ngách thứ ba là các lĩnh vực kháng tự động hóa (automation-resistant)—chăm sóc sức khỏe, sản xuất thủ công và du lịch, chẳng hạn—trong đó sự hiện diện của con người hoặc vị trí địa lý là nguồn giá trị chính.

Không phải tất cả các thị trường ngách (niches) đều mang lại đòn bẩy như nhau. Những vị trí quan trọng nhất là những vị trí mà các cường quốc không thể dễ dàng sao chép hoặc bỏ qua. Công ty thiết bị bán dẫn ASML của Hà Lan đã chiếm giữ một vị trí như vậy. Hoa Kỳ không thể nhanh chóng xây dựng năng lực khắc quang cực tím của riêng mình, và mọi nhà sản xuất chip tiên tiến trên thế giới đều cần tiếp cận liên tục với máy móc và chuyên môn của ASML. Những khả năng như vậy vẫn có giá trị vì chúng được sử dụng liên tục chứ không phải có thể bị cạn kiệt trong một giao dịch duy nhất. Ngược lại, một quốc gia sở hữu dữ liệu huấn luyện có giá trị có thể thấy rằng một khi dữ liệu đó đã được bán hoặc loại bỏ, đòn bẩy của họ sẽ biến mất. Kho dữ liệu khổng lồ về dịch vụ chuyên nghiệp của Ấn Độ có thể chứng tỏ giá trị chiến lược nếu New Delhi duy trì quyền kiểm soát và đặt điều kiện truy cập dựa trên các mối quan hệ đối tác lâu dài. Hoặc dữ liệu này có thể bị bán lẻ cho các công ty AI của Mỹ hoặc Trung Quốc và hoàn toàn mất đi như một nguồn đòn bẩy.

Không phải cường quốc tầm trung nào cũng có thể kiểm soát một nhập lượng quan trọng như của ASML. Nhưng nhiều cường quốc có thể định vị mình ở đầu kia của chuỗi, nơi khả năng của AI phải được chuyển hóa thành tác động đời thực. Cuộc đua giành vị thế thống trị về AI đang thu hút nhân tài, vốn và sự tập trung của chính phủ Mỹ đến mức tạo ra những khoảng trống ở những lĩnh vực khác. Khi các hệ thống ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn, nút thắt cổ chai sẽ ngày càng chuyển sang khâu triển khai—sang năng lực sản xuất, robot và nghiên cứu & phát triển ứng dụng cần thiết để chuyển đổi hiệu suất của các mô hình thành giá trị kinh tế và chiến lược. Đây là những lĩnh vực mà năng lực của Mỹ bị hạn chế và năng lực của Trung Quốc rất lớn, do hàng thập niên chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài từ Hoa Kỳ và đầu tư công nghiệp bền vững của Bắc Kinh. Các cường quốc tầm trung mạnh ở những lĩnh vực này—bao gồm Hàn Quốc và Nhật Bản trong sản xuất tiên tiến và robot, Đức trong kỹ thuật chính xác, và Ấn Độ trong nghiên cứu và phát triển dược phẩm—có thể thấy mình trở nên có giá trị mới đối với Hoa Kỳ khi nước này tìm kiếm quy mô đồng minh để đối trọng với nền tảng kỹ nghệ của Trung Quốc.

Do đó, các cường quốc tầm trung nên ưu tiên những lĩnh vực mà các cường quốc lớn không thể thiếu: các nhập lượng cần thiết để xây dựng hệ thống AI hoặc năng lực cần thiết để đưa chúng vào sử dụng. Điều đó có nghĩa là phải chống lại áp lực bán đi hoặc chuyển ra nước ngoài các tài sản chiến lược, như đã xảy ra khi các công ty robot và bán dẫn của châu Âu bị các nhà đầu tư Trung Quốc mua lại hoặc khi các công ty khởi nghiệp AI và công nghệ sinh học đầy triển vọng bị thu hút đến Hoa Kỳ bởi thị trường vốn sâu rộng hơn. Các công ty ở Thung lũng Silicon sẽ tìm đến để theo đuổi quyền truy cập dữ liệu độc quyền, và các chính phủ nước ngoài sẽ tìm cách kiểm soát các mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng. Các cường quốc tầm trung nên thận trọng: họ không nên chỉ đánh giá các tài sản này dựa trên lợi nhuận ngắn hạn, mà còn dựa trên tiềm năng của chúng trong việc trở thành nguồn đòn bẩy và chỗ đứng chiến lược trong nền kinh tế thế giới đang thay đổi. Một phần, điều đó có nghĩa là sàng lọc chiến lược các khoản đầu tư nước ngoài để đảm bảo rằng các ngành kỹ nghệ trong nước quan trọng không bị suy yếu hoặc chuyển ra nước ngoài. Nhưng điều đó cũng đòi hỏi chính sách kỹ nghệ chủ động để chống lại các khoản trợ cấp của các cường quốc đối thủ. Các nước tầm trung không thể chi tiêu mạnh tay như vậy trên mọi lĩnh vực, nhưng họ có thể thành công trong việc bảo vệ một số lĩnh vực chiến lược nhất định nếu xác định chúng sớm. Họ cũng cần nới lỏng thuế và quy định đối với các lĩnh vực thiết yếu cho vị thế cạnh tranh của mình.

Hoa Kỳ cũng có lợi ích trong việc định hình vị thế của các nước tầm trung. Bắc Kinh đe dọa cạnh tranh vượt mặt Washington về năng lực sản xuất, tích hợp chuỗi cung ứng và tốc độ triển khai. Để chống lại điều này, Hoa Kỳ cần khả năng của một liên minh rộng lớn. Thông qua sự tham gia song phương, xúc tiến xuất khẩu và các thỏa thuận thương mại cam kết mạnh mẽ cả hai bên về việc tiếp cận kỹ thuật lâu dài, Hoa Kỳ có thể khuyến khích các nước tầm trung điều chỉnh vị thế kinh tế của họ phù hợp với các ưu tiên chiến lược của Hoa Kỳ. Điều này có thể giúp các đồng minh có vị thế tốt mở rộng các điểm nghẽn và nhận được quyền truy cập lâu dài vào khả năng trí tuệ nhân tạo trong một liên minh dựa trên sự phụ thuộc công nghệ lẫn nhau.

Nhưng tầm nhìn này đòi hỏi cả hai bên phải hành động một cách chiến lược. Về chính sách trí tuệ nhân tạo, chính quyền Trump đã có một số bước đi đúng hướng: sáng kiến Pax Silica, trao đổi quyền tiếp cận công nghệ của Mỹ để đổi lấy sự đóng góp của các đồng minh vào chuỗi cung ứng chất bán dẫn, và các sắc lệnh hành pháp thúc đẩy xuất khẩu AI cho thấy sự nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề. Nhưng Washington Hoa Kỳ cũng đã thể hiện sự sẵn sàng sử dụng việc tiếp cận kỹ thuật như một vũ khí để đổi lấy những nhượng bộ thương mại không liên quan, như trường hợp của Vương quốc Anh vào tháng 12 khi một thỏa thuận kỹ thuật được cho là đã bị đình chỉ do các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của Anh. Thái độ thù địch rộng rãi hơn của chính quyền Trump đối với các đồng minh đã khiến các đối tác đặt câu hỏi liệu Hoa Kỳ có thể là một điểm tựa đáng tin cậy cho bất cứ liên minh nào hay không. Về phần mình, các cường quốc tầm trung phải nhận ra rằng đòn bẩy của họ phụ thuộc vào những tài sản mà họ chưa có được và có thể dễ dàng đánh mất.

Nếu được xử lý tốt, các cường quốc tầm trung có thể biến tình thế khó khăn chiến lược của mình thành một sự phân công lao động hiệu quả được hỗ trợ bởi đòn bẩy hỗ tương mạnh mẽ. Tuy nhiên, theo quỹ đạo hiện tại, họ đang hướng tới một cái bẫy mà trong đó họ sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề của sự gián đoạn do AI gây ra trong khi chỉ thu được rất ít lợi ích. Kết quả sẽ rất tồi tệ: hai cường quốc AI vĩ đại lao vào một cuộc cách mạng kỹ thuật với hầu hết sức mạnh tính toán và nhân tài của thế giới, bỏ lại phần lớn công dân thế giới phía sau.
___________________________________________________________________
(*) SAM WINTER-LEVY là Nghiên cứu viên về Kỹ thuật và Quan hệ Quốc tế tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế.
ANTON LEICHT là Học giả Thỉnh giảng về Kỹ thuật và Quan hệ Quốc tế tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế.