1. Phép lạ máu thánh Gennaro đã xảy ra trên tay Đức Thánh Cha Lêô XIV

Lúc 15:45 Thứ Sáu, 08 Tháng Năm, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã có cuộc gặp gỡ với hàng giáo phẩm Napoli và những người sống đời thánh hiến tại nhà thờ chính tòa của thành phố. Cuộc gặp gỡ diễn ra dưới hình thức một buổi cử hành Phụng Vụ Lời Chúa với Chầu Thánh Thể, diễn từ chào mừng của Đức Hồng Y Domenico Battaglia, các bài đọc và lời cầu nguyện từ Phúc Âm.

Trước khi kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha đã đọc kinh Lạy Cha. Đức Hồng Y Battaglia trao cho ngài bình máu thánh Gennaro. Khi Đức Thánh Cha hôn kính thánh tích, máu bắt đầu hóa lỏng và chỉ trong giây lát máu đã hóa lỏng hoàn toàn. Đức Thánh Cha cầm thánh tích trên tay lộ vẻ xúc động rõ rệt.

Đức Thánh Cha sau đó đã cầm thánh tích trên tay để ban phép lành cho cộng đoàn trước khi trao lại cho Đức Hồng Y.

Câu chuyện tương tự cũng xảy ra với Đức Thánh Cha Phanxicô khi ngài thăm đền thánh này. Vào ngày 21 tháng 3 năm 2015, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gặp gỡ các linh mục, tu sĩ và chủng sinh tại nhà thờ này.

Trước khi kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha đã đọc kinh Lạy Cha. Đức Hồng Y Sepe trao cho ngài bình máu thánh Gennaro. Khi Đức Thánh Cha hôn kính thánh tích, máu bắt đầu hóa lỏng và Đức Hồng Y đưa ra nhận xét này với Đức Thánh Cha.

Đức Thánh Cha sau đó đã cầm thánh tích trên tay để ban phép lành cho cộng đoàn trước khi trao lại cho Đức Hồng Y. Vị Hồng Y Tổng Giám Mục thành Napoli quan sát một lần nữa và kêu gọi sự chú ý của mọi người.

Ngài nói:

“Anh chị em chú ý: Có dấu chỉ cho thấy Thánh Gennaro thương mến Đức Giáo Hoàng, cũng là người Napoli như chúng ta: máu đã lỏng”.

Máu đã hóa lỏng nhưng không hoàn toàn. Đức Giáo Hoàng nhận xét hóm hỉnh như sau:

“Dường như vị thánh yêu thương chúng ta một chút. Chúng ta phải hoán cải nhiều hơn để ngài yêu thương chúng ta hoàn toàn.”

Lần này, khi phép lạ diễn ra với Đức Thánh Cha Lêô XIV, máu đã hóa lỏng hoàn toàn.

Theo truyền thống, phép lạ Máu Thánh Gennaro hóa lỏng xảy ra ít nhất ba lần một năm: ngày 19 tháng 9, là ngày lễ của vị thánh; kế đó là ngày thứ bảy đầu tiên của tháng 5; và sau cùng ngày 16 tháng 12, kỷ niệm Napoli được cứu khỏi vụ phun trào năm 1631 của Núi Vesuvius gần đó.

Khi phép lạ xảy ra, khối màu đỏ đã khô tích tụ ở một bên của lọ máu trở thành máu lỏng như bình thường. Trong truyền thuyết địa phương, việc máu không hóa lỏng báo hiệu chiến tranh, nạn đói, bệnh tật hoặc các thảm họa khác.

Nhiều cư dân của Napoli tin rằng việc máu của Thánh Gennaro không hóa lỏng là một dấu chỉ cho thấy các bi kịch sẽ xảy đến cho thành phố. Gần đây nhất, khi máu của thánh nhân không hóa lỏng vào năm 1980, một trận động đất đã xảy ra ít ngày sau ở phía nam thành phố Napoli làm hơn 2,500 người thiệt mạng. Một trường hợp tương tự vào năm 1939, khi một bệnh dịch tả tấn công thành phố ngay trước khi bùng nổ Thế chiến thứ hai; và vào năm 1943, khi quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng Ý. Trong quá khứ xa xôi nhất, sự vắng mặt của các phép lạ thường được kết hợp với các tổn thất quân sự, các vụ phun trào núi lửa, và sự bùng phát của các dịch bệnh.

Giữa tình trạng kinh tế lao đao do cuộc chiến Iran, việc phép lạ máu thánh Gennaro đã xảy ra trên tay Đức Thánh Cha Lêô XIV là một tin vui đối với người dân Ý.

2. Đức Tổng Giám Mục Mạc Tư Khoa từ chức ở tuổi 65

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Giám Mục Paolo Pezzi, nhà lãnh đạo Tổng Giáo phận Đức Mẹ tại Mạc Tư Khoa. Đức Tổng Giám Mục Pezzi, 65 tuổi, đã lãnh đạo tổng giáo phận này từ năm 2007.

“Những năm cuối nhiệm kỳ của Đức Tổng Giám Mục Mạc Tư Khoa của Pezzi bị lu mờ bởi cuộc chiến tranh xâm lược của Nga ở Ukraine – một cuộc xung đột mà Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội Công Giáo toàn cầu kiên quyết phản đối – trái ngược với Giáo hội Chính thống Nga thuộc Tòa Thượng phụ Mạc Tư Khoa, vốn vẫn tiếp tục biện minh cho cuộc chiến cho đến ngày nay,” hãng tin Vatican News, cơ quan thông tấn của Bộ Truyền thông Vatican, đưa tin. Cơ quan này không đưa ra lý do nào cho việc Đức Tổng Giám Mục từ chức sớm, được chấp nhận mười năm trước khi Điều 401 của Giáo luật yêu cầu các giám mục phải đệ đơn từ chức.

Đức Giáo Hoàng đã bổ nhiệm Giám Mục Phụ Tá Nikolai Dubinin, Dòng Phanxicô Viện Tu, làm Giám Quản Tông Tòa của tổng giáo phận Nga cho đến khi một Tổng Giám Mục mới được bổ nhiệm.

Theo hãng tin Vatican News, “Đức Cha Dubinin là người Nga bản xứ, sinh năm 1973, con trai của một người cha theo Chính thống giáo và một người mẹ theo Công Giáo, theo học chủng viện ở Mạc Tư Khoa vào những năm 1990, nơi ngài cũng được thụ phong linh mục”. Năm 2020, Cha Dubinin trở thành giám mục Công Giáo người Nga đầu tiên trong hơn một thế kỷ.

Tổng giáo phận Đức Mẹ tại Mạc Tư Khoa là một giáo khu rộng lớn với diện tích 1.015.063 dặm vuông: lớn hơn một phần tư diện tích của Hoa Kỳ. Theo niên giám Tòa Thánh, tổng giáo phận có 70.200 tín hữu Công Giáo, 63 giáo xứ và 18 cứ điểm truyền giáo. Có 46 linh mục giáo phận và 45 linh mục dòng tu phục vụ tại đây.


Source:Catholic World News

3. Diễn từ của Đức Thánh Cha trong cuộc gặp gỡ với các Giám mục, linh mục và tu sĩ nam nữ tại nhà thờ chính tòa Napoli

Lúc 15:45 Thứ Sáu, 08 Tháng Năm, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã có cuộc gặp gỡ với hàng giáo phẩm Napoli và những người sống đời thánh hiến tại nhà thờ chính tòa của thành phố. Cuộc gặp gỡ diễn ra dưới hình thức một buổi cử hành Phụng Vụ Lời Chúa với Chầu Thánh Thể, diễn từ chào mừng của Đức Hồng Y Domenico Battaglia, các bài đọc và lời cầu nguyện từ Phúc Âm.

Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ toàn văn diễn từ của ngài tại đây qua phần trình bày của Túy Vân

Chào Napoli! Chúc buổi sáng tốt lành! Tôi đến Napoli để trải nghiệm sự ấm áp mà chỉ Napoli mới có thể mang lại! Cảm ơn vì sự chào đón nồng nhiệt này! Cảm ơn! Được ở bên nhau là một phước lành từ Chúa, tôi rất hạnh phúc khi được ở đây chiều nay: một khoảng thời gian rất ngắn nhưng rất ý nghĩa. Và điểm dừng chân đầu tiên ngay tại Duomo, nhà thờ chính tòa của Napoli, nơi tôi cũng muốn bày tỏ lòng kính trọng đối với Thánh Gennaro, vị thánh rất quan trọng đối với lòng sùng kính và đức tin của anh chị em!

Kính chào Đức Hồng Y, và tất cả anh chị em. Cảm ơn anh chị em đã đến đây. Chúng ta sẽ cùng nhau cầu nguyện. Chúng con xin Chúa ban phước lành cho tất cả anh chị em cho toàn thể thành phố Napoli. Cảm ơn! Cảm ơn!

Kính thưa Đức Hồng Y, kính thưa các chư huynh Giám Mục,

Kính thưa các linh mục, các tu sĩ nam nữ,

Anh chị em thân mến!

Cảm ơn Đức Hồng Y vì lời chào đón, thay mặt những người hiện diện và toàn thể Giáo Hội tại Napoli. Thật là một niềm vui lớn lao đối với tôi khi được đến thăm thành phố giàu có về nghệ thuật và văn hóa này, nằm ở trung tâm Địa Trung Hải và là nơi sinh sống của những người dân vui vẻ và đầy sức sống, bất chấp gánh nặng của nhiều khó khăn. Vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi đến đây vào năm 2015, đã nói: “Cuộc sống ở Napoli chưa bao giờ dễ dàng, nhưng cũng chưa bao giờ buồn bã! Đây là nguồn lực lớn lao của anh chị em: niềm vui, sự lạc quan” (Gặp gỡ với người dân Scampia, ngày 21 tháng 3 năm 2015). Hôm nay tôi cũng ở đây để được lan tỏa niềm vui ấy. Cảm ơn sự đón tiếp của anh chị em!

Trong tinh thần hữu nghị và tình huynh đệ này, tôi muốn chia sẻ với anh chị em một vài suy nghĩ ngắn gọn, hy vọng sẽ hỗ trợ và khích lệ anh chị em trên hành trình của mình, đồng thời mang lại một số hiểu biết hữu ích cho đời sống giáo hội và mục vụ.

Có một từ vang vọng trong lòng tôi khi tôi lắng nghe câu chuyện Phúc Âm về hai môn đệ trên đường đến Emmaus: đó là từ “quan tâm”. Giống như hai môn đệ ấy, chúng ta thường tiếp tục cuộc hành trình của mình mà không thể hiểu được những dấu chỉ của lịch sử. Đôi khi, nản lòng và thất vọng bởi quá nhiều vấn đề hoặc bởi những hy vọng cá nhân và mục vụ dường như không thành hiện thực, chúng ta mang vẻ mặt buồn rầu và cay đắng trong lòng. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đứng bên cạnh chúng ta và đồng hành cùng chúng ta, giúp chúng ta mở ra một ánh sáng mới: đó là thái độ của một người quan tâm.

Trái ngược với sự quan tâm là sự thờ ơ. Một vài ví dụ có thể dễ dàng nhận thấy: sự bỏ bê đường phố và các góc phố trong thành phố, các khu vực công cộng, vùng ngoại ô, và hơn thế nữa, tất cả những tình huống mà chính cuộc sống bị bỏ mặc, khi chúng ta đang nỗ lực để gìn giữ vẻ đẹp và phẩm giá của nó. Tuy nhiên, trước hết, tôi muốn chúng ta suy ngẫm về tầm quan trọng của việc chăm sóc bản thân, đó là chăm sóc trái tim, nhân tính và các mối quan hệ của chúng ta.

Trước hết, tôi muốn nói điều này với những người trong Giáo hội được kêu gọi đến một vai trò trách nhiệm, một sự phục vụ trong việc quản trị, một sự tận hiến đặc biệt. Tôi nghĩ đến trước hết là các linh mục và các tu sĩ nam nữ, bởi vì gánh nặng của chức vụ và cuộc đấu tranh nội tâm phát sinh từ đó, ở một số khía cạnh, ngày nay thậm chí còn nặng nề hơn so với trước đây.

Napoli là một thành phố lung linh ngàn sắc màu, nơi văn hóa và truyền thống của quá khứ hòa quyện với sự hiện đại và đổi mới; đó là một thành phố nơi lòng sùng đạo tự phát và sôi nổi của người dân đan xen với vô số điểm yếu xã hội và nhiều khía cạnh của nghèo đói; đó là một thành phố cổ kính nhưng không ngừng vận động, tràn đầy vẻ đẹp nhưng đồng thời cũng nhuốm màu đau khổ và thậm chí nhuốm máu bởi bạo lực.

Trong bối cảnh này, công tác mục vụ được kêu gọi liên tục thể hiện sứ điệp Tin Mừng, để đức tin Kitô giáo, được tuyên xưng và tôn vinh, không chỉ giới hạn ở một vài sự kiện cảm xúc mà còn thấm sâu vào đời sống và xã hội. Tuy nhiên, gánh nặng, đặc biệt đối với các linh mục, là rất lớn. Tôi nghĩ đến nỗ lực cần thiết để lắng nghe những câu chuyện được trao phó cho anh chị em, để tìm ra những câu chuyện khuất lấp nhất cần được đưa ra ánh sáng, để kiên trì cam kết với sứ điệp Tin Mừng có thể mang đến những chân trời hy vọng và khuyến khích lựa chọn điều thiện; tôi nghĩ đến những gia đình mệt mỏi và những người trẻ thường xuyên lạc lối mà anh chị em có nhiệm vụ đồng hành, và tất cả những nhu cầu—con người, vật chất và tinh thần—mà người nghèo trao phó cho anh chị em khi họ gõ cửa các giáo xứ và hội đoàn của anh chị em. Thêm vào đó là cảm giác bất lực và hoang mang thường trực khi chúng ta nhận ra rằng ngôn ngữ và hành động của chúng ta dường như không đủ để giải đáp những câu hỏi và thách thức mới của ngày hôm nay, đặc biệt là đối với giới trẻ. Gánh nặng về nhân lực và mục vụ chắc chắn rất lớn, nó có nguy cơ đè nặng lên chúng ta, làm chúng ta mệt mỏi, cạn kiệt năng lượng, và đôi khi còn trầm trọng hơn bởi sự cô đơn và cảm giác bị cô lập trong công việc mục vụ.

Để làm được điều này, chúng ta cần sự chăm sóc. Trước hết, chăm sóc đời sống nội tâm và tâm linh của chúng ta, không ngừng nuôi dưỡng mối quan hệ cá nhân với Chúa trong lời cầu nguyện và trau dồi khả năng lắng nghe những gì thôi thúc bên trong, để phân định và cho phép bản thân được soi sáng bởi Thánh Linh. Điều này cũng đòi hỏi lòng can đảm để dừng lại, không sợ đặt câu hỏi về Tin Mừng trong những tình huống cá nhân và mục vụ mà chúng ta trải nghiệm, để không biến chức vụ mục vụ thành một nhiệm vụ đơn thuần cần phải thực hiện.

Tuy nhiên, việc chăm lo cho sứ vụ của chúng ta cũng bao gồm tình huynh đệ và sự hiệp thông. Một tình huynh đệ bắt nguồn từ Thiên Chúa, được thể hiện qua tình bạn và sự đồng hành lẫn nhau, cũng như qua việc chia sẻ các dự án và sáng kiến mục vụ. Nó nên được coi là “một yếu tố cấu thành nên bản sắc của các thừa tác viên, chứ không chỉ đơn thuần là một lý tưởng hay một khẩu hiệu” (Tông Thư Una Fedeltà Che Genera Futuro, Một Lòng Trung Thành Tạo Ra Tương Lai, 16). Đồng thời, chính vì ngày nay chúng ta dễ bị ảnh hưởng bởi sự cô đơn hơn, sống trong một môi trường văn hóa phức tạp và phân mảnh hơn, nên tình huynh đệ cần được vun đắp và thúc đẩy, thậm chí có thể bằng những “hình thức khả thi mới của đời sống chung” (ibid., 17), trong đó các linh mục có thể giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển hoạt động mục vụ. Điều này không chỉ bao gồm việc tham gia vào một số cuộc họp hoặc sự kiện, mà còn là nỗ lực vượt qua cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân. Chúng ta hãy nghĩ về nhau như những linh mục và tu sĩ! Chúng ta hãy thực hành nghệ thuật gần gũi!

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên bố rằng trước chủ nghĩa cá nhân phổ biến trong các giáo phận của chúng ta, “chúng ta phải phản ứng bằng sự lựa chọn tình huynh đệ”. Và ngài nói thêm: “Sự hiệp thông này đòi hỏi phải được sống bằng cách tìm kiếm những hình thức cụ thể phù hợp với thời đại và thực tế của lãnh thổ, nhưng luôn luôn với một quan điểm tông đồ, một phong cách truyền giáo, tình huynh đệ và sự giản dị trong cuộc sống” (Gặp gỡ các linh mục giáo phận, Cassano all'Jonio, ngày 21 tháng 6 năm 2014).

Do đó, chúng ta đừng quên rằng nhu cầu hiệp thông này trước hết và trên hết liên quan đến chúng ta với tư cách là những người đã được rửa tội, được mời gọi để hình thành nên Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô. Do đó, chúng ta phải tìm kiếm, khuyến khích và sống hiệp thông trong tất cả các mối quan hệ nhân sự và mục vụ của mình, trong đó giáo dân và các nhân viên mục vụ đóng vai trò chủ yếu. Cùng nhau bước đi theo Chúa và thúc đẩy sứ mệnh Tin Mừng bằng cách trân trọng các đặc sủng và chức vụ khác nhau tương ứng với chính bản sắc của Giáo Hội: Giáo Hội là một mầu nhiệm hiệp thông, và mỗi người, bắt đầu từ Bí tích Rửa tội, được mời gọi trở thành một viên đá sống động của công trình, một tông đồ của Tin Mừng, một chứng nhân của Nước Trời.

Về vấn đề này, tôi biết anh chị em đã trải qua một thời gian ân sủng khi cử hành Thượng Hội đồng Giáo phận. Đó là một quá trình đã hồi sinh toàn bộ cộng đồng Giáo hội, kêu gọi cộng đồng tự vấn về cách thức hiện hữu và rao giảng Tin Mừng của mình trên mảnh đất này. Trên hết, tôi muốn mời gọi anh chị em gìn giữ và đón nhận phương pháp của Thượng Hội đồng: đó là một bài tập lắng nghe lẫn nhau, một sự tham gia không loại trừ ai, một sự cộng hưởng về mặt con người, mục vụ và tâm linh giữa các giáo xứ, hội đoàn, các tu sĩ và giáo dân, tìm cách lên tiếng ngay cả cho những người thường bị gạt ra ngoài lề. Sự lắng nghe này đã làm sáng tỏ những kỳ vọng, những vết thương và những hy vọng, mang đến cho anh chị em hình ảnh một Giáo hội được kêu gọi vượt lên chính mình, hoán cải lối sống của mình, hiện thân giữa dân chúng như một ngọn hải đăng của hy vọng.

Thành ra, điều tôi mong muốn ở anh chị em là: hãy lắng nghe lẫn nhau, cùng nhau bước đi, tạo nên một bản giao hưởng của các ân tứ và sứ vụ, và nhờ đó tìm ra cách chuyển từ sứ vụ mục vụ bảo tồn sang sứ vụ truyền giáo có khả năng tác động đến đời sống cụ thể của mọi người.

Đây là một sứ mệnh đòi hỏi sự đóng góp của tất cả mọi người. Trong một thành phố còn nhiều bất bình đẳng, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cao, học sinh bỏ học nhiều và gia đình tan vỡ, việc rao giảng Tin Mừng không thể tồn tại nếu thiếu sự hiện diện cụ thể và hỗ trợ từ mỗi người trong chúng ta—các linh mục, tu sĩ và giáo dân. Mỗi người đều là người tham gia tích cực vào công tác mục vụ và đời sống của Giáo hội, chứ không chỉ là người cộng tác, để sự cam kết và chứng ngôn của mỗi cá nhân có thể tạo nên một cộng đồng hiện diện và quan tâm, có khả năng trở thành men trong bột. Một cộng đồng biết cách lập kế hoạch và đề xuất các chương trình giúp mọi người sống trải nghiệm Tin Mừng và từ đó đổi mới thành phố Napoli.

Kính thưa anh chị em, tôi biết mối liên kết đặc biệt gắn bó anh chị em với vị thánh bổn mạng của mình, Thánh Gennaro; nhưng ân sủng của Chúa đã ban cho anh chị em cách dồi dào đến nỗi đã truyền cảm hứng cho rất nhiều vị thánh khác trong suốt lịch sử của anh chị em. Tôi phó thác anh chị em cho các vị thánh ấy và cho sự cầu bầu của Đức Mẹ Maria, Đức Trinh Nữ Lên Trời và là Người Mẹ đầy lòng thương xót. Và đừng quên: anh chị em là một phần của câu chuyện tình yêu – tình yêu của Chúa dành cho dân Ngài – một câu chuyện đã bắt đầu trước khi anh chị em có mặt và không kết thúc với anh chị em; anh chị em là một phần của câu chuyện ấy như những mảnh ghép độc đáo và cần thiết; anh chị em là một phần của câu chuyện ấy để, ngay cả trong mạng lưới bóng tối dày đặc, anh chị em vẫn có thể thắp lên một ngọn đèn.

Đừng sợ hãi, đừng nản lòng, và hãy trở thành những chứng nhân của Chúa Kitô và những người gieo mầm tương lai cho Giáo hội và thành phố này!

4. Sau khi nhà thờ chính tòa Armenia bị phá hủy ở Nagorno-Karabakh, Âu Châu đang bắt đầu phản kháng.

Nhà thờ chính tòa Stepanakert ở Nagorno-Karabakh — còn được gọi là Artsakh — đã trở thành nạn nhân mới nhất trong cái mà các quan chức Giáo Hội Armenia mô tả là nỗ lực có hệ thống nhằm xóa bỏ sự hiện diện của người Armenia khỏi khu vực, sau cuộc tấn công của Azerbaijan năm 2023 khiến toàn bộ dân số — hơn 120.000 người Armenia — phải di dời.

Vấn đề này hiện đã bùng phát trên trường Âu Châu. Ngày 30 tháng 4, Nghị viện Âu Châu đã thông qua một nghị quyết kêu gọi rõ ràng việc truy cứu trách nhiệm đối với những người gây ra sự phá hủy di sản văn hóa và tôn giáo Armenia ở Nagorno-Karabakh và yêu cầu gây áp lực quốc tế mạnh mẽ hơn để UNESCO cử một phái đoàn đánh giá các địa điểm bị ảnh hưởng. Phản ứng tại thủ đô Baku của Azerbaijan rất nhanh chóng. Ngày 1 tháng 5, quốc hội Azerbaijan đã bỏ phiếu cắt đứt hoàn toàn quan hệ với Nghị viện Âu Châu, đồng thời đại sứ Liên minh Âu Châu tại Baku đã bị triệu tập và nhận được công hàm ngoại giao lên án nghị quyết này là xuyên tạc sự thật.

Lời cảnh báo đầu tiên được đưa ra bởi Tòa Giám Mục Etchmiadzin, trung tâm tinh thần của Giáo hội Tông đồ Armenia, vào ngày 23 tháng 4, khi họ cảnh báo rằng các địa điểm Kitô giáo Armenia đang bị tấn công một cách có hệ thống và gọi đó là “hành vi phá hoại do nhà nước bảo trợ”. Những nghi ngờ dựa trên hình ảnh vệ tinh sau đó đã được chính quyền Baku xác nhận.

Trong một thông cáo ngày 27 tháng 4, Hội đồng Hồi giáo Caucasus trực thuộc chính phủ Azerbaijan đã đề cập đến việc phá dỡ “hai tòa nhà” – mà không nêu tên – được hiểu rộng rãi là nhà thờ chính tòa và một công trình tôn giáo nhỏ hơn, nhà thờ Thánh Jacob. Hội đồng lập luận rằng hành động này “không thể bị xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào như là sự phá hủy di sản tôn giáo hoặc văn hóa”, mô tả các công trình này là được xây dựng bất hợp pháp trong thời kỳ mà họ gọi là sự xâm lược của Armenia trên lãnh thổ Azerbaijan.

Đối với Artak Beglaryan, chủ tịch Liên minh Artsakh, người sinh ra ở Stepanakert, cựu bộ trưởng nhà nước và thanh tra viên của Cộng hòa Artsakh, sự tàn phá này không phải là một sự việc cá biệt. “Đây không phải là lần đầu tiên, và thật không may, nó cũng sẽ không phải là lần cuối cùng — trừ khi có đủ áp lực quốc tế,” ông nói với tờ Register vào đêm trước Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Chính trị Âu Châu lần thứ 8 và Hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Âu Châu-Armenia lần thứ nhất, cả hai đều được tổ chức tại Yerevan vào ngày 4-5 tháng 5.

Đây là một chính sách, chứ không phải là một ngoại lệ.

Hai nhà thờ bị phá hủy vào tháng Tư là những công trình tương đối mới, phản ánh sự phát triển hiện đại của Stepanakert, thủ đô của Artsakh, được thành lập và phần lớn xây dựng trong thời kỳ Xô Viết.

Nhà thờ Thánh Jacob được xây dựng vào năm 2005, trong khi Nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh - hoàn thành năm 2019 - nhanh chóng trở thành nơi thờ tự lớn nhất trong khu vực, đóng vai trò như “nhà thờ mẹ” của Artsakh. “Đó là nhà thờ trung tâm,” Beglaryan giải thích, nhấn mạnh tầm quan trọng mang tính biểu tượng của nó đối với người dân địa phương.

Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Đồng Trinh ở Stepanakert và Nhà thờ Thánh Jacob

Ảnh trên, từ trái sang phải: Nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh ở Stepanakert và Nhà thờ Thánh Jacob, bị phá hủy vào tháng 4 năm 2026. 'Con gái thứ hai của tôi được rửa tội tại nhà thờ chính tòa Stepanakert vào năm 2022. Con gái đầu lòng của tôi được rửa tội tại nhà thờ Thánh Gioan Tẩy giả 'Kanach Zham' ở Shushi vào năm 2018, nơi vợ chồng tôi kết hôn vào năm 2017. Nhà thờ đó cũng bị phá hủy hoàn toàn vào năm 2024. Vì vậy, việc cả hai nhà thờ bị phá hủy là một cú sốc rất lớn đối với gia đình tôi,' Artak Beglaryan nói với tờ Register. (Ảnh: Edgar Kamalyan)

Ông khẳng định sự phá hoại này phù hợp với một xu hướng rộng lớn hơn. “Họ không chỉ phá hủy những nhà thờ mới xây,” Beglaryan nói. “Họ cũng đang phá hủy những nhà thờ thời trung cổ và trong những trường hợp khác, họ còn làm hư hại hoặc thay đổi danh tính của chúng — phân loại lại chúng là nhà thờ 'Albania vùng Kavkaz' — ngay cả khi những dòng chữ khắc bằng tiếng Armenia từ thời Trung cổ vẫn còn hiện hữu.”

Các nhóm giám sát độc lập như Caucasus Heritage Watch và Monument Watch ước tính rằng từ 100 đến 150 địa điểm Kitô giáo Armenia đã bị phá hủy hoặc hư hại nghiêm trọng kể từ cuộc chiến năm 2020, và phạm vi có thể còn rộng hơn nữa sau cuộc tấn công năm 2023. Nghiên cứu riêng biệt, bao gồm cả công trình của Simon Maghakyan, đã ghi nhận sự tàn phá gần như hoàn toàn di sản Kitô giáo Armenia ở Nakhchivan, với ước tính của Caucasus Heritage Watch rằng có tới 98% di tích đã bị xóa sổ trong khoảng thời gian từ những năm 1990 đến năm 2010.

Một cuộc tranh luận pháp lý gây tranh cãi

Chính quyền Azerbaijan đã biện minh cho việc phá dỡ là hợp pháp, lập luận rằng các nhà thờ được xây dựng “bất hợp pháp” trong thời kỳ mà họ mô tả là “sự xâm lược” của Armenia đối với lãnh thổ Azerbaijan - một tuyên bố bắt nguồn từ cuộc tranh chấp kéo dài hàng thập niên về Nagorno-Karabakh, một vùng đất có dân cư chủ yếu là người Armenia sinh sống, được giao cho Azerbaijan trong thời Liên Xô.

Hội đồng Hồi giáo Caucasus cũng lập luận rằng những cư dân Azerbaijan trở về đã kêu gọi dỡ bỏ những công trình không tồn tại trước khi xung đột xảy ra.

Các đại diện của Armenia kịch liệt phản đối những tuyên bố này. Ông Beglaryan nói, đề cập đến các phán quyết được đưa ra vào năm 2021 và 2023: “Tòa án Công lý Quốc tế của Liên Hiệp Quốc đã ra lệnh rõ ràng cho Azerbaijan bảo vệ di sản văn hóa và tài sản tư nhân của người dân Nagorno-Karabakh. Những nghĩa vụ này áp dụng bất kể tình trạng chính trị của lãnh thổ đó.”

Bức tường im lặng — và cái giá phải trả khi phá vỡ nó

Cho đến khi có nghị quyết của Liên Hiệp Âu Châu, phản ứng quốc tế vẫn còn hạn chế. Để giải thích sự im lặng này, các nhà quan sát chỉ ra vai trò của Azerbaijan với tư cách là nhà cung cấp năng lượng chính cho Âu Châu là một yếu tố then chốt, đặc biệt là trong bối cảnh chiến tranh Nga-Ukraine.

“Azerbaijan cung cấp khí đốt và dầu mỏ cho nhiều nước Âu Châu, và điều đó phần nào giải thích sự im lặng của hầu hết các nhà lãnh đạo Âu Châu”, ông Beglaryan nói. Ông cũng cho rằng Azerbaijan đã tạo dựng được ảnh hưởng trong nhiều tổ chức quốc tế, điều này càng làm phức tạp thêm nỗ lực huy động một phản ứng phối hợp.

Thế giới Kitô giáo đã phản ứng chậm chạp một cách đáng chú ý. Đặc biệt, Vatican đã phải đối mặt với những lời chỉ trích vì sự thiếu phản hồi của mình, với những người chỉ trích cho rằng việc Azerbaijan tài trợ cho các dự án trùng tu do Vatican dẫn đầu tại các địa điểm Công Giáo ở Rôma là một lời giải thích khả dĩ — làm dấy lên những cáo buộc về “ngoại giao xa hoa” của một quốc gia đã trở nên giàu có hơn đáng kể trong những thập niên gần đây nhờ khai thác nguồn tài nguyên năng lượng khổng lồ của mình.

Mức độ gay gắt trong phản ứng của Baku đối với nghị quyết của Nghị viện Âu Châu đã cho thấy lý do tại sao sự im lặng đó lại khó phá vỡ đến vậy. Trách nhiệm giải trình luôn đi kèm với cái giá phải trả về mặt ngoại giao, và hầu hết các chính phủ phương Tây cho đến nay vẫn chưa sẵn lòng trả giá đó.

Lập trường của chính phủ Armenia hầu như không giúp ích gì. Thủ tướng Nikol Pashinyan mới đây đã mô tả vấn đề này là “con dao hai lưỡi”, kêu gọi thận trọng.

Lập trường này phù hợp với chính sách hòa giải rộng hơn của ông với Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan, điều đã khiến ông gạt bỏ những vấn đề lịch sử vô cùng nhạy cảm như việc công nhận nạn diệt chủng Armenia. “Tôi e rằng một số tuyên bố của họ có thể càng khuyến khích Azerbaijan trong các hành động của họ”, ông Beglaryan than thở.

Lời kêu gọi hành động

Việc chính phủ Armenia không sẵn lòng ủng hộ chính nghĩa này trên trường quốc tế đã khiến những người Armenia di tản và các nhóm xã hội dân sự tìm kiếm những con đường riêng để gây áp lực. Và các hội nghị thượng đỉnh Âu Châu sắp tới tại Yerevan mang đến một cơ hội hiếm hoi.

Liên minh Artsakh hoan nghênh nghị quyết của Nghị viện Âu Châu với thái độ lạc quan thận trọng nhưng thẳng thắn. Trong khi ca ngợi “lập trường nhất quán và có nguyên tắc” của nghị viện, họ lưu ý rằng các nghị quyết như vậy “đóng vai trò là chuẩn mực rõ ràng cho các nhánh hành pháp của Liên Hiệp Âu Châu và các quốc gia thành viên” — những cơ quan mà họ cảnh báo, “thường xuyên phớt lờ quyền của người dân Artsakh do cách hiểu hẹp hòi về lợi ích địa chính trị của riêng họ”.

“Khi các nhà lãnh đạo Âu Châu tập trung tại Yerevan, họ phải quyết định xem nên ưu tiên lợi ích năng lượng hẹp hòi hay duy trì khuôn khổ dựa trên các giá trị do chính nghị viện của họ đặt ra”, ông Beglaryan nói.

Tổ chức Đoàn kết Kitô giáo Quốc tế đã kêu gọi Tổng thống Thụy Sĩ Guy Parmelin sử dụng hội nghị thượng đỉnh này để khởi xướng một diễn đàn hòa bình quốc tế nhằm giải quyết quyền hồi hương của người Armenia bị di dời theo các bảo đảm quốc tế.

Với hơn 6.000 di tích văn hóa ở Artsakh — bao gồm khoảng 400 nhà thờ, một số có niên đại từ thế kỷ thứ ba và thứ tư — Beglaryan cảnh báo rằng, rủi ro không thể cao hơn. “Chúng tôi là tuyến đầu của nền văn minh Kitô giáo trong khu vực này; thế giới không thể im lặng thêm nữa.”


Source:National Catholic Register