1. 10 điều cần biết về Giáo Hội Công Giáo tại Tây Ban Nha trong bối cảnh chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đang thăm Tây Ban Nha từ ngày 6 đến 12 tháng 6, dừng chân tại Madrid, Barcelona, quần đảo Canary và Tenerife. Đây là lần thứ chín một vị giáo hoàng đến thăm đất nước này. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến thăm Tây Ban Nha năm lần và Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 đã đến đây ba lần.
Trong chuyến đi này, Đức Giáo Hoàng Lêô sẽ tham gia 20 sự kiện chính thức, trong đó một số khoảnh khắc được mong chờ nhất là buổi canh thức lớn với giới trẻ, Thánh lễ ngoài trời mừng Lễ Mình Thánh Chúa và cuộc rước kiệu qua các đường phố Madrid.
Dưới đây là 10 điều cần biết về Giáo hội tại Tây Ban Nha, đặc biệt tập trung vào các khu vực mà Đức Thánh Cha sẽ đến thăm.
Thứ nhất, Tây Ban Nha là quốc gia cử nhiều nhà truyền giáo nhất.
Hiện nay, Tây Ban Nha dẫn đầu thế giới về việc cử các nhà truyền giáo Công Giáo đến các quốc gia khác và cũng là một trong những nước tài trợ hàng đầu cho các Hội Giáo Hoàng Truyền giáo. Theo báo cáo năm 2024 của nhóm truyền giáo này, Tây Ban Nha có gần 10.000 nhà truyền giáo, trong đó khoảng 5.000 người đang hoạt động; hơn một nửa là phụ nữ và hầu hết phục vụ ở Mỹ Châu.
Thứ hai, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị gọi Tây Ban Nha là Tierra de María (“Vùng đất của Đức Mẹ”).
Thánh Gioan Phaolô II đã nhiều lần gọi Tây Ban Nha là “vùng đất của Đức Mẹ”, đặc biệt là trong các chuyến thăm năm 1982 và 2003, nhấn mạnh đến mạng lưới dày đặc các đền thờ và hoạt động sùng kính Đức Mẹ ở nước này. Tây Ban Nha thực sự có rất nhiều thánh địa Đức Mẹ — từ các vương cung thánh đường lớn đến những nhà nguyện nhỏ trên đỉnh đồi — đến nỗi hầu như mọi vùng miền đều có danh hiệu, lễ hội và cuộc hành hương riêng dành cho Đức Mẹ.
Thứ ba, Đây là nơi lưu giữ những chứng nhân và những vị tử đạo Kitô giáo.
Theo nhà sử học người Tây Ban Nha, Đức ông Vicente Carcel Orti, Nội chiến Tây Ban Nha đã để lại một trong những “dấu ấn tử đạo” lớn nhất trong lịch sử Giáo hội hiện đại, và nó đã định hình sâu sắc bản đồ các vị thánh và người được phong chân phước của Tây Ban Nha. Trong suốt cuộc chiến và thời kỳ bách hại rộng lớn hơn, khoảng 6.832 giám mục, linh mục, tu sĩ và nữ tu đã bị giết vì đức tin của họ, cùng với hàng ngàn tín hữu Công Giáo giáo dân đã liều mạng để bảo vệ giáo sĩ và tu sĩ.
Từ cuộc bách hại quy mô lớn này, Giáo hội đã dần dần công nhận một số lượng rất lớn các vị tử đạo: Năm 2007, lễ phong chân phước cho 498 vị tử đạo dưới thời Đức Bênêđíctô XVI là buổi lễ phong chân phước lớn nhất từng được tổ chức. Đến cuối những năm 2000, gần 1.000 vị tử đạo của Nội chiến Tây Ban Nha đã được phong chân phước hoặc phong thánh.
Thứ tư, Nhà thờ chính tòa Madrid được một giáo hoàng làm lễ thánh hiến.
Một trong những công trình Công Giáo quan trọng nhất ở Madrid là Nhà thờ Đức Mẹ Almudena, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thánh hiến năm 1993. Việc thánh hiến nhà thờ bởi một vị Giáo hoàng là khá hiếm hoi bên ngoài Rôma, điều này mang lại cho nhà thờ ý nghĩa đặc biệt trong đời sống Công Giáo Tây Ban Nha. Công trình này vẫn là tâm điểm cho các lễ kỷ niệm tôn giáo lớn ở thủ đô Tây Ban Nha.
Việc xây dựng Nhà thờ Almudena bắt đầu vào năm 1883 và mãi đến năm 1993 mới hoàn thành. Dự án kéo dài cả thế kỷ này phản ánh tầm quan trọng lâu dài của Công Giáo ở Tây Ban Nha và sự phát triển kiến trúc của thời hiện đại. Ngày nay, nhà thờ nằm đối diện với Cung điện Hoàng gia Madrid, tượng trưng cho mối quan hệ lịch sử giữa nhà thờ và hoàng gia.
Thứ năm, Đức Mẹ Maria, vị thánh bảo hộ của Madrid, đã “ẩn mình trong những bức tường”.
Thánh bổn mạng của Madrid là Đức Mẹ Almudena, hình ảnh của Người gắn liền với một truyền thống lâu đời có từ thời Trung cổ của Tây Ban Nha. Theo truyền thuyết, khi quân Moor xâm chiếm vùng này vào năm 712, người dân Madrid đã bí mật giấu bức tượng Đức Mẹ Maria yêu quý của họ bên trong những bức tường đá dày của pháo đài thành phố, để lại hai ngọn nến đang cháy bên cạnh. Năm 1085, sau khi Vua Alfonso VI tái chiếm Madrid, những người Kitô giáo đã tìm kiếm bức tượng. Trong khi đi dọc theo tường thành, một phần tường đã sụp đổ một cách kỳ diệu, để lộ bức tượng được bảo tồn hoàn hảo với những ngọn nến vẫn cháy sau nhiều thế kỷ.
Bức ảnh thiêng liêng đó sẽ được rước qua sân vận động Santiago Bernabéu trong cuộc gặp gỡ của Đức Thánh Cha với cộng đồng giáo phận Madrid vào ngày 8 tháng 6.
Thứ sáu, Hoàng gia Tây Ban Nha có mối quan hệ mật thiết với Giáo hội.
Gia đình hoàng gia Tây Ban Nha duy trì mối quan hệ mật thiết với Giáo Hội Công Giáo, và một trong những ví dụ rõ ràng nhất là vào năm 2004 khi Thái tử Felipe kết hôn với Letizia Ortiz tại Nhà thờ Almudena ở Madrid. Buổi lễ đã nhấn mạnh vai trò tiếp tục của các truyền thống Công Giáo trong các sự kiện quốc gia quan trọng.
Thứ bẩy, Nhà thờ nổi tiếng nhất Barcelona là một giáo lý bằng đá.
Vương cung thánh đường Sagrada Família không chỉ là một kiệt tác kiến trúc mà còn được xây dựng như một công cụ truyền giáo. Những người sáng lập đã hình dung ra một nhà thờ có thể truyền đạt đức tin Kitô giáo thông qua nghệ thuật, biểu tượng và kiến trúc, biến nó trở thành một trong những biểu hiện độc đáo nhất của đức tin Công Giáo trên thế giới.
Du khách đến thăm Sagrada Família sẽ được chứng kiến một câu chuyện trực quan tái hiện lại cốt lõi của Kitô giáo. Các mặt tiền chính của vương cung thánh đường mô tả sự Giáng Sinh, cuộc Khổ nạn và vinh quang của Chúa Kitô — được dành riêng cho vinh quang, sự thăng thiên và sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa.
Nhà thờ Sagrada Família đã trở thành tòa nhà thờ cao nhất thế giới với chiều cao khoảng 162 mét. Mặc dù có quy mô đồ sộ, vương cung thánh đường này được thiết kế để hướng sự chú ý đến Chúa chứ không phải thành tựu của con người.
Vương cung thánh đường nổi tiếng này ban đầu được thiết kế bởi Francisco de Paula del Villar vào năm 1882. Tuy nhiên, kiến trúc sư người Catalan Antoni Gaudí đã tiếp quản dự án vào năm 1883 và hoàn toàn biến đổi thiết kế thành sự kết hợp giữa phong cách Gothic và Art Nouveau, giám sát việc xây dựng cho đến khi ông qua đời vào năm 1926. Sau khi ông mất, một số kiến trúc sư khác đã tiếp tục công việc của ông với mục tiêu hoàn thành tầm nhìn ban đầu của ông.
Gaudí cố tình thiết kế nhà thờ Sagrada Família sao cho nó thấp hơn một chút so với ngọn đồi Montjuïc gần đó ở Barcelona, bởi vì ông tin rằng không có công trình nào của con người được phép vượt qua tạo vật của Chúa.
Thứ tám, Kiến trúc sư của nhà thờ Sagrada Família có thể một ngày nào đó sẽ được phong thánh.
Antoni Gaudí nổi tiếng với đức tin cá nhân mãnh liệt và lòng tận tụy đối với việc xây dựng nhà thờ Sagrada Família. Ngày 14 tháng 4 năm 2025, Vatican thông báo rằng Giáo hoàng Phanxicô đã chính thức công nhận “đức hạnh anh hùng” của Gaudí, một bước quan trọng trong tiến trình phong thánh. Hiện nay, cần có hai phép lạ được tường trình nhờ sự cầu bầu của Gaudí để tiến hành phong thánh cho ông.
Thứ chín, Đền thờ Đức Mẹ vĩ đại ở Tenerife là địa điểm hành hương quan trọng nhất của quần đảo Canary.
Vương cung thánh đường Đức Mẹ Candelaria ở Tenerife là địa điểm hành hương Công Giáo quan trọng nhất ở quần đảo Canary. Từ nhiều thế hệ, nơi đây đã đóng vai trò là trái tim tâm linh của quần đảo và vẫn là điểm đến chính cho những người hành hương và du khách, thu hút khoảng 2 triệu lượt khách mỗi năm.
Vương cung thánh đường này được dành riêng cho thánh bổn mạng của quần đảo Canary — Đức Mẹ Candelaria. Truyền thuyết kể rằng hình ảnh Đức Mẹ Candelaria đã được người Guanche bản địa tôn kính trước khi Tây Ban Nha hoàn thành cuộc chinh phục Tenerife. Đức Mẹ Candelaria thường được liên kết với truyền thống Đức Mẹ Đen — những hình ảnh Đức Mẹ có làn da sẫm màu được tôn kính ở nhiều nơi trên thế giới.
Thứ mười, Quần đảo Canary là một trong những tiền đồn Công Giáo đầu tiên.
Quần đảo Canary được chia thành hai giáo phận Công Giáo: một giáo phận đặt tại Las Palmas và giáo phận còn lại ở San Cristóbal de La Laguna trên đảo Tenerife. Các giáo phận này được thành lập vào đầu thế kỷ 15, nhiều thập niên trước khi đạo Công Giáo được truyền bá rộng rãi ở phần lớn Mỹ Châu. Điều này đã biến quần đảo trở thành một tiền tuyến quan trọng trong quá trình bành trướng của đạo Công Giáo trong một giai đoạn then chốt của lịch sử thế giới.
Nhờ vị trí chiến lược ở Đại Tây Dương, quần đảo Canary trở thành điểm dừng chân quan trọng cho các nhà thám hiểm, nhà truyền giáo và người định cư trên hành trình giữa Âu Châu và Mỹ Châu. Do đó, các đảo này đóng vai trò đáng kể trong việc truyền bá đạo Công Giáo khắp Tân Thế giới.
Source:National Catholic Register
2. Diễn từ của Đức Thánh Cha với chính quyền dân sự và ngoại giao đoàn.
Kính thưa quý vị và anh chị em,
Lúc 8g sáng Thứ Bẩy, 06 Tháng Sáu, theo giờ địa phương Rôma, Đức Thánh Cha đã khởi hành bằng máy bay từ phi trường quốc tế Fiumicino của Rôma để bay đến Madrid.
Trên đường đến Madrid, Đức Thánh Cha nói với các ký giả tháp tùng rằng:
Chuyến hành trình tông đồ là cơ hội để gặp gỡ các tín hữu, để cử hành đức tin và loan truyền sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô. Nhưng đồng thời, đó cũng là dịp để chào đón tất cả mọi người, toàn thể xã hội, bởi vì Giáo hội có một sứ điệp dành cho tất cả mọi người, như các bạn có thể đã thấy, tôi tin là rất rõ ràng trong Thông điệp được công bố vào ngày 25 tháng 5.
Tôi hy vọng mọi người sẽ có một chuyến đi vui vẻ và đó sẽ là cơ hội để nuôi dưỡng lòng nhiệt thành lớn lao. Có rất nhiều người Công Giáo, và tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh sự hiện diện của giới trẻ. Theo những gì tôi được biết, một số lượng lớn giới trẻ sẽ tham gia với lòng nhiệt thành lớn lao. Bằng cách cùng nhau chia sẻ niềm vui đức tin, tôi tin rằng chúng ta có thể mang đến một thông điệp rất tích cực. Đó là một thông điệp sẽ mang ý nghĩa đặc biệt ở mọi nơi chúng ta đến thăm, dù là Madrid, Barcelona hay quần đảo Canary. Mong rằng mọi sự đều góp phần sống trọn đức tin của chúng ta và loan truyền sứ điệp về tình yêu thương, lòng bác ái và sự tôn trọng của Thiên Chúa dành cho mọi con người.
Những hình ảnh quý vị và anh chị em đang xem thấy đây là quang cảnh đón tiếp tại phi trường quốc tế Adolfo Suárez Madrid-Barajas của Thủ đô Madrid vào lúc 10:30 sáng giờ địa phương.
Sau lễ nghi đón tiếp, Đức Thánh Cha đã đi xe đến Cung điện Hoàng gia ở Madrid. Tại đây, lúc 12 giờ trưa, Đức Thánh Cha đã thăm xã giao Nhà Vua Và Hoàng Hậu Tây Ban Nha.
Lúc 12:30, Đức Thánh Cha đã gặp gỡ chính quyền dân sự và ngoại giao đoàn.
Trong diễn từ tại đây, Đức Thánh Cha nói:
Thưa Các Công Chúa
Thưa các vị Đại diện Danh dự của Xã hội Dân sự
Thưa các thành viên đáng kính của Đoàn Ngoại giao,
Thưa quý bà và quý ông,
Tôi tạ ơn Chúa vì dịp được gặp gỡ quý vị này, và bày tỏ lòng biết ơn về lời mời thực hiện Chuyến Tông du đến Tây Ban Nha. Chuyến đi này sẽ diễn ra qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn hé lộ một khía cạnh về sự phong phú đa diện của một đất nước vĩ đại, nơi đã đón nhận Tin Mừng trong gần hai thiên niên kỷ. Truyền thống luôn gắn liền việc truyền giáo ban đầu ở Bán đảo Iberia với lời rao giảng của Thánh Tông đồ Gia-cô-bê Cả. Mối liên hệ này có tầm quan trọng thần học đáng kể, vì nó thể hiện nhận thức của Giáo hội địa phương về sự tiếp nối của mình với sứ mệnh tông đồ bắt đầu từ Lễ Ngũ Tuần. Mặc dù không bao quát hết bản sắc đa diện của dân tộc quý vị, mối liên kết lâu đời giữa đức tin Kitô giáo và vùng đất này đã định hình sâu sắc nền văn hóa của quý vị và là nguồn hy vọng và định hướng giữa những thách thức mà chúng ta phải cùng nhau đối diện với tư cách là một gia đình nhân loại ngày nay. Tôi nghĩ đến những biểu hiện của lòng đạo đức bình dân, như một sự kịch hóa đích thực về ơn cứu độ ở mọi thành phố và thị trấn, phù hợp với nhịp điệu của năm và các bối cảnh khác nhau của cuộc sống. Cùng với di sản nghệ thuật và âm nhạc, cũng như nhiều hội đoàn và hiệp hội bác ái, chúng là minh chứng cho cuộc gặp gỡ hữu hiệu giữa Chúa Giêsu Kitô và dân tộc của quý vị, một dân tộc nhiệt huyết, yêu đời và thể hiện điều đó!
Tôi đến giữa quý vị để khẳng định, khuyến khích và vun đắp lòng trung thành mới mẻ với Tin Mừng trong vòng tín hữu, cũng như sự hòa giải và hợp tác sâu sắc hơn giữa các thành phần khác nhau của quốc gia này. Xét cho cùng, lịch sử của chính quý vị cho thấy rằng một nền văn hóa gặp gỡ, chứ không phải đối đầu, mới là điều thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng. Trên thực tế, thông điệp hòa bình, mà hiện nay thật không may đã bị một số người cho là ngây thơ và những người khác cho là đối đầu, lại được chào đón bởi những người không tự khép mình trong những ý thức hệ định kiến, mà cởi mở với sự thật. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã dạy chúng ta, thực tế là có “một sự căng thẳng thường trực giữa ý tưởng và thực tại. Các thực tại đơn giản là hiện hữu, trong khi ý tưởng được xây dựng nên. Phải có sự đối thoại liên tục giữa hai điều này, nếu không ý tưởng sẽ tách rời khỏi thực tại. Thật nguy hiểm khi chỉ sống trong thế giới của ngôn từ, của hình ảnh và hùng biện” (Evangelii Gaudium, 231). Ngài kết luận rằng “thực tại vĩ đại hơn ý tưởng” (ibid.). Chân lý luôn vĩ đại hơn chúng ta, đó là lý do tại sao nó làm chúng ta kinh ngạc và dẫn dắt chúng ta đến những con đường thanh tẩy và hòa giải, trong đó đối thoại với người khác — và với Đấng Khác với chữ “K” viết hoa — trở nên vô cùng quan trọng.
Về vấn đề này, tôi muốn đề cập đến hai nhân vật nổi bật của đất nước này, những người đã làm phong phú đời sống của Giáo hội và hành trình tâm linh của nhiều người trong năm thế kỷ, thậm chí vượt ra ngoài biên giới Tây Ban Nha. Tôi đang nói đến Thánh Gioan Thánh Giá và Thánh Teresa Ávila, những người có niềm đam mê với Mầu nhiệm Thần Thiêng đã gắn kết họ lại với nhau như những người bạn. Chủ nghĩa huyền nhiệm của họ là chủ nghĩa huyền nhiệm “mắt mở”, nghĩa là không tách rời khỏi lịch sử, mà là thấu suốt đến tận gốc rễ của các vấn đề và trái tim của thực tại. Đặc biệt, khi giải thích những biến đổi và vượt qua những căng thẳng khiến thời đại chúng ta trở nên u tối, chúng ta có thể thấy hữu ích khi xem xét chủ đề về màn đêm, rất thân thuộc với Thánh Gioan Thánh Giá, người mà chúng ta đang cử hành Năm Thánh. Thật nghịch lý, trong cơn khát ánh sáng, ngài đã học cách trân trọng bóng tối — “đêm hạnh phúc” (Đêm Tối của Tâm Hồn, 3) — như là thời điểm mà tâm hồn được giải thoát khỏi những gì nó cho là đã biết và sở hữu. Ngay cả ngày nay, điều khiến chúng ta sợ hãi nhất, điều ở nhiều người khơi dậy bóng tối của lý trí và sự dữ dội của cảm xúc, chính là điều chưa biết, trước nó chúng ta có thể cảm thấy choáng ngợp bởi cảm giác lạc lối không có bản đồ, như thể chúng ta đã mất phương hướng. Đó là lý do tại sao, ngay cả trong đời sống công cộng, chúng ta cần những người đàn ông và đàn bà có thể nhận ra ánh sáng trong bóng tối: một khởi đầu mới, giống như bình minh của một chân lý mà cho đến nay vẫn còn làm chúng ta mù quáng, nhưng — nếu chúng ta tin tưởng và tìm thấy sự bình an — sẽ nhẹ nhàng dẫn dắt chúng ta đến với chính nó. “Ôi đêm đã dẫn lối! Ôi đêm đẹp hơn cả bình minh! Ôi đêm đã mang đến Đấng Yêu Dấu và người yêu dấu, người yêu dấu được biến đổi trong Đấng Yêu Dấu!” (ibid., 5).
Thời đại của chúng ta, dường như bị lung lay bởi những bất cân bằng và xung đột khủng khiếp, đang kêu gọi từ sâu thẳm lòng mình hòa bình, một sự hiểu biết mới về con người và phẩm giá bất khả xâm phạm của nó, một nền văn minh của tình yêu thương (xem Magnifica Humanitas, 186).
Thánh Teresa mô tả quá trình này bằng hình ảnh lâu đài nội tâm. Khi người ta di chuyển từ phòng này sang phòng khác hướng về căn phòng trong cùng — tức là hướng về trái tim mình, thánh địa của chân lý — không gian mở rộng, tâm trí rộng mở, những thách thức được vượt qua, căng thẳng tan biến, những người khác tìm thấy vị trí của họ, và vũ trụ trở thành một ngôi nhà. Đây không phải là sự trốn tránh vào bản ngã, mà là sự cởi mở triệt để đối với Totus Alius et Semper Novus [Trọn vẹn Đấng Khác và Luôn luôn Mới Mẻ] đạt được khi chúng ta trở về với chính mình. Chiều kích này của con người là lý do tại sao tự do tôn giáo và tự do lương tâm phải được bảo vệ.
Ngày nay, cám dỗ giành được sự nổi tiếng bằng cách thổi bùng ngọn lửa phân cực dường như ngày càng gia tăng chứ không hề giảm bớt, và phẩm giá con người tiếp tục bị xâm phạm. Đó là lý do tại sao chúng ta cần văn hóa, nội tâm và giáo dục phẩm chất miễn phí; chúng ta cần sự siêu việt. Tuy nhiên, ngay cả trong những đêm tối này, những người nam và nữ trung thành với chân lý vẫn được thúc đẩy tiến từ phòng này sang phòng khác cho đến khi công lý và hòa bình hòa quyện trong lương tâm họ. Chính nhờ sự tự do của họ mà chúng ta học được cách sống tự do.
Giáo Hội Công Giáo phục vụ cho khát vọng của trái tim con người. Đó là một sự phục vụ không mang tính áp đặt, mà là chứng nhân Tin Mừng được chứng thực bởi vô số các vị tử đạo và thánh nhân. Ngày nay, Giáo hội sẵn sàng đặt mình phục vụ cho tương lai của một dân tộc đang tìm kiếm sự hòa giải và hòa bình.
Vì tình yêu chân lý, tôi mời gọi mọi người hãy gạt bỏ những câu chuyện chia rẽ và phân cực về thực tại và lịch sử xã hội của mình, để vượt qua những sự đơn giản hóa vô ích bằng cách trân trọng sự phức tạp một cách hữu hiệu. Tôi thấy ở đây một ơn gọi đặc biệt phù hợp với Âu Châu, trong đó Tây Ban Nha đóng một vai trò độc đáo và cơ bản. Đây là món quà mà “Lục địa già” có thể dành tặng cho thế giới nếu muốn giữ mãi tuổi trẻ, bởi vì tuổi trẻ được tìm thấy ở những người cảm thấy họ có một tương lai và một sứ mệnh vẫn còn ý nghĩa. Trân trọng và nghiên cứu sự phức tạp, học cách không phủ nhận mà đón nhận nó như một phước lành, và tránh xa những đường lối dựa trên bản sắc dường như giải thích mọi thứ nhưng chỉ làm cho thế giới tràn ngập “bóng ma” và kẻ thù, đó là nhiệm vụ của những người thừa kế một lịch sử vĩ đại. Kỹ thuật mới đã tạo ra một môi trường nhân tạo, nơi những lựa chọn cơ bản của chúng ta bị thử thách, định kiến bị phóng đại, tư duy phản biện bị suy yếu và các lợi ích thống trị lan truyền những khát vọng hủy diệt. Tuy nhiên, điều tốt đẹp vẫn có thể chiến thắng và lan rộng.
Điều cần thiết, đặc biệt là đối với những người có trách nhiệm về kinh tế, chính trị và định chế, là phải tạo ra một bước nhảy vọt về phẩm chất — thay đổi hướng đầu tư vào trường học, đại học và nghiên cứu, cũng như vào cộng đồng địa phương và xã hội dân sự như một nền tảng nuôi dưỡng sự tham gia và hòa giải văn hóa. An ninh, điều mà chúng ta thường mong đợi tìm thấy trong vũ khí và những bức tường, trên thực tế lại đạt được tốt nhất bằng cách học cách tiến lên cùng nhau, cùng nhau phát triển, sát cánh bên nhau. Lịch sử của chính quý vị đã chứng minh điều này. Ví dụ, sự hiện diện của Hồi giáo trên bán đảo Iberia đã tạo nên một thực tế chính trị, văn hóa và tôn giáo lâu dài. Trong giai đoạn đó, không chỉ có sự đối đầu mà còn có nỗ lực tạo ra không gian tiếp xúc, trò chuyện và đối thoại về ý nghĩa của chân lý giữa Kitô giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo. Tại Trường Biên dịch được Alfonso X (Người Khôn ngoan) cải tổ, các chuyên gia từ cả ba tôn giáo đã hợp tác dịch thuật các văn bản thuộc di sản Ả Rập, Hy Lạp và Do Thái phong phú, góp phần phổ biến các văn bản như của các triết gia Averroes (1126-1198) và Maimonides (1138-1204), cùng nhiều tác giả khác. Đặc biệt, các thành phố Córdoba và Toledo đã trở thành trung tâm đối thoại giữa các ngôn ngữ, tôn giáo và tri thức. Đây là sự thật được kể bởi các thành phố Âu Châu: sự phân tầng lịch sử của chúng, tấm vải đoàn kết đã định hình nên những khác biệt của chúng qua nhiều thế kỷ. Trải qua nhiều thế kỷ, biến những xung đột không thể tránh khỏi thành những khởi đầu mới.
Như một người con ưu tú khác của vùng đất này đã dạy chúng ta, thử thách và thất bại mang đến cơ hội để đánh giá lại. Thánh Y Nhã sở hữu sự táo bạo này, tin tưởng vào những nỗi tuyệt vọng và niềm an ủi trong lòng mình thông qua việc vận dụng khả năng phân định và trí tưởng tượng, dẫn dắt ngài đến việc lựa chọn hòa bình hơn chiến tranh và các vị thánh hơn kẻ quyền lực. Ngài hiểu rằng điều tốt đẹp mà ngài hướng tới không phải là ảo tưởng, và vì vậy, khủng hoảng của ngài đã trở thành một ân sủng. Điều tương tự cũng có thể xảy ra với những “điều mới lạ” đang làm chúng ta bất ổn ngày nay và thường gây ra sự chia rẽ. “Chúng ta phải tránh những lời lẽ xúc phạm hoặc đối kháng, thay vào đó hãy chọn sự rõ ràng soi sáng và sự thẳng thắn mở ra những khả năng mới. Chúng ta không thể dung thứ cho sự nhiệt tình ngây thơ, cũng không thể nuôi dưỡng những nỗi sợ hãi vô căn cứ. Thay vào đó, chúng ta hãy thiết lập các tiêu chuẩn để phân định – phẩm giá con người, đích đến phổ quát của của cải, sự ưu tiên chọn người nghèo, chăm lo cho ngôi nhà chung và hòa bình – và hãy chuyển những tiêu chuẩn này thành các hoạt động thực tiễn như quy hoạch có trách nhiệm, đánh giá tác động xã hội và con người, sự tham gia của những người dễ bị tổn thương nhất, thúc đẩy khả năng đọc viết kỹ thuật số và hướng nghiên cứu và kỹ nghệ hướng tới công lý và hòa bình” (Magnifica Humanitas, 14).
Thưa Đức Vua, Hoàng thân, Quý Công Chúa, quý bà và quý ông, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với đất nước của quý vị vì sự tuân thủ trung thành luật pháp quốc tế và chủ nghĩa đa phương, được thể hiện qua cam kết tích cực đối với hòa bình và tình liên đới giữa các dân tộc. Đồng thời, tôi khuyến khích các bạn vun đắp đối thoại và tình hữu nghị công dân trong nước, lưu tâm đến quan điểm của người nghèo và người trẻ khi hình dung về tương lai, hài hòa các yêu sách về quyền tự chủ và thống nhất, và thúc đẩy sự nghiệp thống nhất ở Âu Châu — không phải để đối đầu với các cường quốc khác, mà như một món quà dành cho toàn thể nhân loại.
Xin Chúa phù hộ Tây Ban Nha!
Kính thưa quý vị và anh chị em,
Sau khi nghỉ trưa, lúc 6 giờ chiều, Đức Thánh Cha đã thăm các nhân viên và người hưởng lợi của dự án xã hội “Cedia 24 Horas” tại trung tâm thông tin và chào đón.
Lúc 8:30, Đức Thánh Cha đã có buổi cầu nguyện cùng giới trẻ tại quảng trường Lima.
3. Diễn từ của Đức Thánh Cha tại Sân vận động Movistar Arena
Như chúng tôi đã đưa tin sáng Chúa Nhật, 07 Tháng Sáu, Đức Thánh Cha đã cử hành thánh lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô tại quảng trường Cibles. Sau khi cử hành thánh lễ, Đức Thánh Cha đã chủ sự cuộc rước kiệu Corpus Christi.
Lúc 4:30 chiều cùng ngày, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với các thành viên dòng Augustinô tại tòa Sứ thần Tòa Thánh.
Lúc 6 giờ chiều, Đức Thánh Cha đã tham dự cuộc hội thảo “Xây Dựng Mạng Lưới Với Thế Giới Văn Hóa, Nghệ Thuật, Kinh Tế Và Thể Thao” tại Sân vận động Movistar Arena
Trong diễn từ tại đây, Đức Thánh Cha nói:
Thưa Đức Hồng Y,
Các bạn thân mến,
Thật hân hạnh được gặp gỡ các bạn tại nơi này, một không gian không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động thể thao, nghệ thuật và văn hóa, mà còn là nơi hội tụ những cảm xúc sâu sắc nhất của con người: niềm vui và sự ngưỡng mộ, sự nhiệt tình và hy vọng, cũng như nỗi buồn và sự thất vọng.
Ở đất nước tuyệt vời này, không thể không ngưỡng mộ dấu ấn của sự sáng tạo xuyên suốt lịch sử và định hình bản sắc của nó. Một vẻ đẹp hiện hữu trong các thành phố, đường phố và tượng đài, quảng trường và khu vườn, trường đại học và nhà thờ, trong âm nhạc, hội họa và vũ điệu, và trong ẩm thực của nó. Ở đây, chúng ta cũng tri nhận được linh hồn của những thế hệ từng biến đổi cảnh quan và cho nó một diện mạo riêng, bộc lộ trong từng đường nét trí tuệ và ý chí tiềm ẩn trong tâm hồn con người.
Sau khi quan sát kỹ lưỡng những kỳ quan do các thế hệ trước tạo ra, một câu hỏi không thể tránh khỏi nảy sinh, thách thức tất cả chúng ta: chúng ta đang để lại di sản gì cho tương lai và, do đó, chúng ta đang xây dựng một cộng đồng như thế nào?
Tôi đã lắng nghe với sự quan tâm sâu sắc từng bài thuyết trình của các diễn giả; tôi đồng ý với các bạn. Xã hội ta, trên thực tế, sở hữu khả năng phi thường trong sản xuất, đổi mới và truyền đạt; tuy nhiên, dường như chúng ta vẫn cần học cách bảo tồn linh hồn của những gì nó tạo ra. Nếu không, chúng ta có nguy cơ trở thành chuyên gia về phương tiện truyền thông và hiệu quả trong sản xuất, nhưng lại không chắc chắn về lý do, mục đích, với ai và cho ai chúng ta sản xuất. Trong bối cảnh này, Giáo hội, nhận thức được cả những thành công và sai lầm của mình trong suốt lịch sử, mong muốn duy trì đối thoại với thế giới đương thời.
Khát vọng về sự tốt lành, cái đẹp và chân lý bắt nguồn từ DNA của nhân loại; và chính từ khát vọng nhân bản sâu sắc này cùng kinh nghiệm hàng thế kỷ của chúng ta mà Giáo hội đề xuất những con đường hướng tới một cuộc sống phẩm giá và lợi ích chung. Về vấn đề này, Thánh Phaolô VI đã tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc rằng, bất kể ý kiến của người ta về Giám Mục Rôma, sứ mệnh của ngài đều được biết đến rộng rãi. Là một “chuyên gia về nhân loại”, Giáo hội không thờ ơ với bất cứ điều gì thực sự thuộc về con người (xem Gaudium et Spes, 1). Vì lý do này, “thái độ đối thoại là một phần không thể thiếu trong ơn gọi của Giáo hội” (Magnifica Humanitas, 2). Ngày nay, chúng ta thấy rằng câu hỏi quan trọng vẫn như cũ: làm thế nào để thực sự là con người?
Giáo hội khiêm tốn nhưng cũng kiên định chia sẻ những gì mình đã khám phá được trong kinh nghiệm đức tin: rằng Chúa Giêsu Kitô trả lời những câu hỏi lớn về cuộc sống con người và sự viên mãn của nó, ngay trong thế giới này và cho đến khi đạt đến đỉnh cao trong cõi vĩnh hằng. “Vì lý do này, con người luôn luôn là 'con đường chính yếu và cơ bản của Giáo hội' và là trọng tâm của mọi hành trình đích thực trong sự phát triển toàn diện của con người” (ibid., 50). Do đó, Giáo Hội không thể phớt lờ văn hóa, bởi vì thông qua nó, con người với tư cách là con người “trở nên” trọn vẹn hơn (xem Tuyển tập Giáo lý Xã hội của Giáo hội, 554).
Và chính vì thuật ngữ “văn hóa” gợi lên khái niệm “vun trồng”, như nguồn gốc từ nguyên chung của cả hai thuật ngữ cho thấy, chúng ta được mời gọi tự hỏi mình đang gieo trồng điều gì ngày nay, điều gì đang nở rộ và điều gì đang âm thầm héo tàn trong xã hội ta; những giá trị nào chúng ta đang gìn giữ và những giá trị nào chúng ta đang để cho biến mất. Đây là những câu hỏi sâu sắc, cần thiết không thể bỏ qua.
Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta cần một cuộc đối thoại xã hội mà chúng ta có thể so sánh với nghệ thuật dệt nên những mạng lưới, bao gồm sự gặp gỡ, lắng nghe, đối thoại và tôn trọng.
Trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người, chúng ta phải chú ý đến ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng: ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói, và trong thế giới kỹ thuật số, thậm chí cả hình ảnh; bởi vì truyền thông không bao giờ trung lập. Mỗi biểu thức đều truyền đạt, chuyển tải; nó có thể làm tổn thương hoặc chữa lành, phá hủy kỳ vọng hoặc mở ra những chân trời mới, gieo rắc sự chia rẽ hoặc khơi dậy hy vọng về khả năng cùng nhau xây dựng một điều gì đó thực sự nhân bản.
Do đó, việc xây dựng mạng lưới là một cuộc đối thoại giữa các định chế lấy phẩm giá con người làm trung tâm. Điều này ngụ ý, ví dụ, rằng các trường đại học không nên quay lưng lại với thế giới việc làm hoặc từ bỏ chân lý; rằng các doanh nghiệp không nên coi nhân viên chỉ là những yếu tố phục vụ lợi ích của riêng họ; rằng nghệ thuật không nên chỉ hướng đến giới thượng lưu; rằng thể thao không nên bị thu hẹp thành một trò giải trí hoặc biến thành hoạt động kinh doanh đơn thuần; rằng tiến bộ kỹ thuật cần tính đến người già, người nghèo và những người không có tiếng nói.
Đóng góp của chúng tôi vào cuộc đối thoại, bắt đầu từ một tầm nhìn Kitô giáo về cuộc sống. Điều đó bắt đầu từ nhận thức rằng Đấng Tạo Hóa đã dệt nên con người bằng những sợi chỉ tình yêu; vì chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa là tình yêu (xem 1 Gioan 4:8). Đây là nền tảng của phẩm giá con người bất khả xâm phạm, sự tôn trọng tuyệt đối phẩm giá đó là cơ sở của đối thoại.
Thứ hai, việc dệt nên các mạng lưới có nghĩa là cùng nhau sáng tạo. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16 đã tuyên bố: “Đức tin là tình yêu và do đó tạo ra thi ca và âm nhạc. Đức tin là niềm vui và do đó tạo ra vẻ đẹp” (Giáo lý, ngày 21 tháng 5 năm 2008). Tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm điều gì đó đẹp đẽ, đủ để thay đổi chúng ta từ bên trong: một bài hát, một bài thơ, một nhà thờ tĩnh lặng, một giọng nói, một ánh nhìn, thậm chí là một trận bóng rổ với bạn bè.
Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi việc loan báo Tin Mừng và ý thức về tình anh chị em được thể hiện dưới hình thức “saeta [ai ca ngẫu hứng]” trong Tuần Thánh, trong thi ca huyền nhiệm và sự tinh tế trong văn chương của các tác giả như Lope de Vega, Thánh Teresa của Ávila, Thánh Gioan Thánh Giá, Calderón de la Barca, hay trong văn xuôi thanh thản của Thánh Thomas Aquinas, người mà chúng ta được thừa hưởng những bài thánh ca tuyệt đẹp của Lễ Mình Thánh Chúa mà chúng ta cử hành hôm nay. Tất cả điều này chứng tỏ mối liên hệ giữa vật chất và tinh thần định hình nên sự hiện hữu của chúng ta.
Thứ ba, việc dệt nên các mạng lưới có nghĩa là phục vụ vô vị kỷ. Một cái nhìn khách quan cho thấy rằng những người nam và nữ được thúc đẩy bởi đức tin đã xây dựng bệnh viện và trường học, khởi xướng các sáng kiến liên đới và nói bằng một ngôn ngữ làm cao quý con người. Do đó, thật chính đáng khi đặt câu hỏi một cách thẳng thắn rằng liệu thế giới - và đặc biệt là Âu Châu - có thể hình thành bản sắc của mình nếu không có dấu ấn tinh thần đã thấm nhuần trong lịch sử của nó hay không. Đây không phải là một sự khiêu khích, mà là một lời mời gọi suy gẫm về việc liệu sự vĩnh hằng, điều đã bùng nổ trong thời gian và không gian thông qua sự nhập thể của Chúa Giêsu Kitô, có thể được dung hòa với cuộc sống thường nhật hay không.
Liệu thực sự có thể tin rằng Âu Châu—nơi chúng ta yêu mến biết bao—sẽ vẫn như vậy nếu thiếu đi dấu ấn của đức tin? Tại sao lại sợ hãi khi sự vĩnh hằng thấm đẫm vào cuộc sống thường nhật? Tiếng kêu của các vị tiền nhiệm của tôi vẫn còn vang vọng: Đừng sợ hãi! Hãy mở rộng cánh cửa cho Chúa Kitô! Chúa Giêsu Kitô không lấy gì của chúng ta nhưng ban cho chúng ta mọi sự.
Tôi muốn tự hỏi mình một cách công khai: Ai bị loại trừ bất chấp các nhân đức và khả năng của họ? Chúng ta không thể phớt lờ rằng hoàn cảnh khốn khổ của người nghèo đại diện cho một tiếng kêu mà xuyên suốt lịch sử nhân loại, liên tục thách thức cuộc sống của chúng ta, xã hội của chúng ta, hệ thống chính trị và kinh tế của chúng ta, và cả Giáo hội (xem Dilexi te, 9).
Thật vậy, Chúa Kitô đã khôi phục lại vị trí xứng đáng cho lợi ích chung như một trọng tài khôn ngoan, người xoa dịu lòng tham của một số người và nuôi dưỡng niềm hy vọng của những người khác, đồng thời mong muốn cứu rỗi mọi người.
Giáo hội này, am hiểu về nhân loại, dù đôi khi đi ngược lại với số đông, vẫn khẳng định rằng “các cấu trúc kinh tế và định chế chỉ công bằng khi chúng cổ vũ sự phát triển toàn diện của con người và khuyến khích sự tham gia có trách nhiệm của tất cả mọi người” (Magnifica Humanitas, 34).
Cuối cùng, cho phép tôi hướng sự chú ý của các bạn đến một thế giới mà như các bạn đã biết, không hề xa lạ với tôi: đó là thế giới thể thao. Hãy nghĩ xem có bao nhiêu người trong chúng ta đã học được sự tôn trọng đối thủ trên sân chơi hơn là bằng cách lắng nghe một bài diễn thuyết. Có bao nhiêu vận động viên dạy chúng ta cách thua mà không thù hận, cách thắng mà không làm nhục đối thủ, hoặc cách đứng dậy sau khi vấp ngã.
Về vấn đề này, Thánh Gioan Phaolô II, với tư cách là một vận động viên và một mục tử, đã tuyên bố: “Trong thời đại này, khi mà thật không may, nhiều hình thức bạo lực và do đó là hận thù đang có xu hướng xé nát nền tảng của tình liên đới xã hội, các bạn [vận động viên] góp phần, bằng phần mình, làm chứng sáng ngời cho sự gắn kết, hòa bình, thống nhất - nói tóm lại, là 'biết cách sống cùng nhau'“ (Bài phát biểu trước các vận động viên tham gia Giải vô địch trượt nước Âu Châu, Phi Châu và Địa Trung Hải lần thứ 33, ngày 31 tháng 8 năm 1979).
Những phát biểu này càng trở nên đương thời và kịp thời hơn so với khi chúng lần đầu tiên được vang lên.
Các bạn thân mến, vì vậy tôi mời các bạn hãy là những sợi chỉ mới, dệt nên những mạng lưới mới hòa hợp mọi lĩnh vực của cuộc sống, dệt nên một xã hội đổi mới, nơi thời gian được thấm đẫm sự vĩnh hằng, văn hóa lưu giữ ký ức và thúc đẩy đối thoại, giáo dục khuyến khích việc tìm kiếm chân lý một cách có phê phán, nghệ thuật truyền cảm hứng kỳ diệu và tạo ra những cảm xúc cao quý, kinh doanh nhận ra phẩm giá của con người, và lao động tiếp tục là động lực của hy vọng.
Chúng ta hãy trở thành những sợi chỉ mới, theo lời khuyên của Thánh Phaolô: “Hãy vui mừng với những người vui mừng, hãy khóc với những người khóc. Hãy đồng tâm đồng ý với nhau. Đừng tự cho mình là khôn ngoan. Đừng lấy ác trả ác. Hãy tìm làm điều đúng đắn trước mặt mọi người. Nếu có thể, tùy theo khả năng của mình, hãy sống hòa thuận với mọi người” (Rm 12:15-18). Vì điều đang bị đe dọa ở đây chính là Nhân tính Tuyệt diệu của chúng ta trong tương lai. Cảm ơn rất nhiều.