Tựa đề này, theo một người bạn, không đúng. Phải nói là Lòng Chúa Thương Xót. Vì không hiểu được sự tinh tế của hai lối nói, nên tôi vẫn có thói quen gọi là Lòng Thương Xót Chúa, với ý nghĩa Chúa thương xót chứ không phải thương xót Chúa.

Còn nhớ năm ngoái, 2010, cũng vào dịp tháng 6 thì phải, tôi được bà xã cho hay: “Mai em phải dậy thật sớm để đi tham dự buổi Lòng Thương Xót Chúa”. “Mấy giờ”. “Năm giờ sáng”. “Trời đất, Lòng Thương Xót Chúa chi mà 5 giờ sáng!”. “Ở mãi tận đâu ấy mà, mấy chị bạn bảo phải đi xe búyt lòng dòng lắm mới tới nơi”. “Mấy giờ khai mạc?”. “Nghe đâu 10 giờ sáng”.

Hỏi mãi mới ra địa điểm “Lòng Thương Xót Chúa” tới Sydney, đó là Nhà Thờ Mân Côi ở Kellyville. Từ chỗ tôi tới đó, băng qua Motor Ways 5 và 7 mất khoảng non một giờ đồng hồ, vậy mà phải đi từ 5 giờ sáng, thì có ông chồng nào, dù khô như ngói như tôi, mà lại nỡ để bà xã “thân gái” dặm trường như thế cho đành. Tôi bèn “tự nguyện” xung phong chở bà xã “đi tới nơi về tới chốn”.

Cũng rất may, vì phải gọi điện thoại cho chị bạn để hủy chỗ ngồi trên xe búyt, nên chúng tôi mới hay là buổi Lòng Thương Xót Chúa được hoãn lại lúc 3 giờ chiều cùng ngày. Lý do của việc thay đổi này không được giải thích rõ. Sau này có người “xấu miệng” cho hay là “do quấy phá”, hàm nghĩa có sự tương quan giữa một buổi “Lòng Thương Xót Chúa” ở Long Beach ngày nào với vị Hồng Y bị người ta đội cho cái mũ… đỏ. Dù gì, thì sự thay đổi này cũng làm vợ chồng tôi thong thả đôi chút.

Tiện xuống Kellyville, chúng tôi tới thăm gia đình một người quen ngày trước ở Wiley Park, vừa mới chuyển về đây ở với 3 cô con gái. Hai bác tuổi cao hơn chúng tôi, tính rủ hai bác cùng tham dự “Lòng Thương Xót Chúa” nhưng hai bác chỉ “cũng có nghe” mà “không tham dự” buổi cầu nguyện này. Thế là hai vợ chồng tôi tham dự “một mình”.

Theo lời căn dặn, vợ chồng tôi không dám lái xe vào đường Diana, vì “số người tham dự có thể đông” mà vào đường Greyfriar Pl cách địa điểm tổ chức có đến non nửa cây số. Theo mũi tên chỉ và sự hướng dẫn của 3 thanh niên thiện nguyện, chúng tôi cho xe vào một bãi cỏ khá rộng. Nhìn tới nhìn lui, xe chúng tôi là xe độc nhất ở đó. Nhìn lại đồng hồ, đã 3 giờ chiều rồi.

Vợ chồng tôi đành hối hả tìm đường vào Nhà Thờ Mân Côi. Tưởng đi lạc mấy lần, sau rồi cũng tới nơi. Trong Nhà Thờ, Cha Luân đã đang hướng dẫn cộng đoàn lần chuỗi Lòng Thương Xót Chúa. Nhìn quanh, cộng đoàn hết sức sốt sắng, chăm chú theo dõi các hướng dẫn của Cha. Đến lúc này thì tôi hoàn toàn chắc chắn Cha Luân đây không phải là Cha Luân từng chứng kiến và chúc lành cho nghi thức hôn phối của em vợ tôi tại Santa Ana năm 1993.

Điều làm tôi ngạc nhiên đầu tiên là dù được rời lại trễ hơn, con số người tham dự không được đông lắm, chưa đầy 1/3 Nhà Thờ, nhưng Cha Luân vẫn nhiệt tình giảng giải và hướng dẫn cộng đoàn về một hình thức cầu nguyện mới trong Giáo Hội. Lời cha giảng giải thật chí tình, có lúc dí dỏm, hấp dẫn, quả chẳng phí thì giờ. Vả lại, làm sao mà phí thì giờ cho được với một buổi cầu nguyện cộng đồng như thế này? “Ở đâu có hai hay ba người tụ lại nhân danh Ta, Ta sẽ ở giữa họ”. Vợ chồng tôi, vì thế, hòa mình vào bầu khí sùng kính chung.

Người hành hương Nga La Tư

Lòng sùng kính này đến được với thế giới, và hôm nay, chính thức đến được với Sydney, không hẳn đơn giản và dễ dàng. Trước khi được nghe nói tới lòng sùng kính này, tôi từng đọc về Người Hành Hương Nga La Tư. Ông thắc mắc mãi về lời Thánh Phaolô khuyên tín hữu Têxalônika (1Tx 5:17) phải cầu nguyện không ngừng. Và ông loay hoay tìm hiểu mãi mà vẫn không hiểu làm cách nào thi hành được từng chữ lời khuyên ấy, làm thế nào để cầu nguyện không ngừng. Ông rất hiểu làm việc là cầu nguyện (laborare orare est), đóng chuồng gà cũng là cầu nguyện. Nhưng như có một thầy đại chủng viện từng nói với các dự tòng ở Chủng Viện Manly, Sydney, rằng có thể cầu nguyện trong khi đi đóng chuồng gà, nhưng khi cầu nguyện thì đừng đi đóng chuồng gà! Cho nên người hành hương Nga La Tư vẫn cứ đi tìm cách nào để thực sự cầu nguyện không ngừng như Thánh Phaolô dạy.

Thế là ông lên đường “tầm đạo” may ra kiếm được bậc thầy nào đó có phương pháp giúp ông cầu nguyện không ngừng. Ông đi nghe rất nhiều vị giảng thuyết thời danh, nhưng các vị chỉ nói về việc cầu nguyện chung chung như cầu nguyện là gì, tại sao cần phải cầu nguyện, đâu là hoa trái của cầu nguyện, chứ không nói tới việc làm thế nào cầu nguyện không ngừng. Ông đành kết luận: giảng thuyết không giúp gì ông, vì như vị ẩn tu ông gặp sau này cho hay, giảng thuyết là chuyện khoa bảng, không phải là trải nghiệm huyền nhiệm. Vị ẩn sĩ này không nói nhiều, chỉ dạy ông Kinh Lạy Chúa Giêsu (Jesus Prayer): Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con! với lời dẫn giải như sau: “Việc thực hành lời kinh này trong tâm hồn và liên lỉ bao gồm việc liên tục, không ngừng kêu tên Chúa Giêsu trên môi, trong trái tim và với sự hiểu biết cùng với ý thức về sự hiện diện của Người mọi lúc và mọi nơi, cả trong giấc ngủ”. Người nào có thói quen kêu cầu như thế sẽ trải nghiệm được một sự an ủi rất lớn và tự nhiên cảm thấy nhu cầu phải lặp đi lặp lại lời này. Sau một thời gian, họ sẽ không bỏ nó được nữa, đến độ họ thấy nó được lặp lại trong họ mà họ không cần phải đọc nó trên môi. Với điều kiện phải thực hành việc này theo phương pháp của Đấng Thánh Simeon: ngồi yên, thinh lặng và một mình; cúi đầu, nhắm mắt, thở đều; cố gắng điều hướng diễn trình tưởng tượng và suy nghĩ của mình bên trong tâm hồn; và vừa thở ra thở vào vừa đọc "Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con" bằng một giọng nhỏ nhẹ, gần như trong tâm hồn; cố gắng xua đuổi mọi ý nghĩ khác, và thường xuyên lặp lại thực hành này.

Với cỗ tràng hạt do ẩn sĩ trao, người Hành Hương Nga La Tư thực hành 3,000 Kinh Lạy Chúa Giêsu một ngày. Thoạt đầu thấy khó, sau việc ấy trở nên đơn giản đến độ khi ông không lặp lại lời kinh, ông cảm thấy nhu cầu cần lặp lại nó, và cứ thế, theo lời ông, nó “xuôi chẩy” một cách dễ dàng và êm đềm, không còn cái khó khăn như những ngày đầu. Rồi ông được vị ẩn sĩ đề nghị tăng lên 6,000 kinh một ngày. Ông vâng theo, và “tôi trở nên quen thuộc với việc đọc kinh này đến nỗi nếu ngưng đọc, là tôi cảm thấy một sự trống rỗng nào đó, như thể mất đi một điều gì. Và liền khi lặp lại kinh ấy là tâm hồn tôi cảm thấy nhẹ nhõm và hân hoan trở lại”.

Từ đó, ông luôn miệng kêu cầu tới danh Chúa Giêsu, không cần đếm nữa, bất kể khi nào, nơi nào. Lời kinh làm ông ấm lòng giữa mưa tuyết giá buốt, quên cơn đói; hết mỏi chân, đau lưng; cơn giận, cơn tủi biến tan; quên mọi u sầu, lo lắng.

Người thuật truyện không nói đến hoàn cảnh khiến nẩy sinh việc đọc Kinh Lạy Chúa Giêsu, chỉ cho biết người hành hương mồ côi cha mẹ lúc lên 3, mất một cánh tay lúc 7 tuổi, căn nhà của ông bị lửa thiêu rụi, còn người vợ trẻ của ông thì bị trùng lao cướp mạng. Tóm lại đó là những “cái duyên” khiến ông gặp Kinh Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con!

Thánh Faustina

Bởi thế, khi nghe nhà tôi nói đến Phong Trào Lòng Thương Xót Chúa, tôi lầm tưởng là một phong trào theo chân Người Hành Hương Nga La Tư xưa. Sau mới rõ, Phong Trào này của Thánh Nữ Faustina, người đồng hương với vị Giáo Hoàng phong á thánh rồi hiển thánh cho Bà, Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Nhưng xét cho cùng, cái lầm của tôi không tệ hại lắm. Vì Thánh Nữ Faustina đâu có xa lạ gì với Người Hành Hương Nga La Tư, họ đều thuộc dòng Slavic.

Có điều hình như người thuộc dòng La Tinh không mấy thích người thuộc dòng Slavic, nên khi Thánh Nữ Faustina cổ động việc sùng kính Lòng Thương Xót Chúa, Bà bèn bị Giáo Triều, lúc ấy, gồm phần lớn dòng La Tinh, chống đối. Thông cáo chính thức của Thánh Bộ Văn Phòng Thánh (Holy Office, tên cũ của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin) ngày 6 tháng 3 năm 1959 nói thế này: “Xin thông báo để mọi người rõ rằng Thánh Bộ Văn Phòng Thánh, sau khi xem sét các điều nói là thị kiến của Nữ Tu Faustina Kowalski, Thuộc Hội Dòng Đức Bà Thương Xót, người vừa qua đời năm 1938 gần Cracow, đã quyết định như sau: 1. Lệnh cấm của Văn Phòng Thánh được ban bố đối với việc phổ biến các hình ảnh và trước tác nhằm trình bày việc sùng kính Lòng Thương Xót Chúa dưới các hình thức do Nữ Tu Faustina vừa nói đề nghị. 2. Ủy thác cho sự khôn ngoan của các giám mục nhiệm vụ gỡ bỏ bất cứ hình ảnh nào nói trên vốn có thể đã được trưng lên cho công chúng sùng kính…” (theo bản tiếng Anh đăng trong The Australasian Catholic Record, Vol. XXXVI, April 1959, no.2, p. 103).

Ai cũng biết hình ảnh ấy là hình ảnh nào. Đó là hình Chúa Giêsu tay phải ban phép, tay trái đang vạch áo để lộ ra cả một suối thương xót sáng láng, dưới có câu "Lạy Chúa Giêsu, con tin cậy ở Ngài", một câu do chính Chúa Giêsu truyền cho Thánh Nữ và nhà tôi vẫn đọc trước khi “Lòng Thương Sót Chúa” qua Sydney, một câu làm tôi ngạc nhiên khám phá ra sự khác biệt giữa hai người thuộc dòng Slavic nói trên. Một người dựa hoàn toàn vào Thánh Kinh. Một người dựa hoàn toàn vào thị kiến. Năm 2009, Phong Trào mừng 75 năm ngày bức hình này được bắt đầu vẽ, tức ngày 2 tháng Giêng năm 1934, bởi họa sĩ Eugene Kazimirowski.

Dù gì, bà cũng vẫn rất gần gũi với Người Hành Hương Nga La Tư bởi chủ điểm các trước tác ghi lại các thị kiến của bà cũng là sứ điệp đầy an ủi này: “Trong Cựu Ứơc, Ta sai các tiên tri đến để giáng sấm sét xuống Dân Ta. Ngày nay, Ta sai con đi với Lòng Thương Xót của Ta đến với muôn dân thế giới. Ta không muốn trừng phạt nhân loại đau khổ, nhưng chỉ muốn sửa trị họ, ép họ vào Trái Tim Hay Thương Xót của Ta” (Nhật Ký 1588). Và “Một linh hồn càng khốn khó, thì quyền của họ đối với Lòng Xót Thương của Ta càng lớn” (Nhật ký 1182).

Rất may, hình ảnh kia và những thị kiến này đã được một bàn tay Slavic cứu sống. Đó là người đồng hương, chỉ sống cách Bà không đầy 20 cây số, Karol Wojtyla. Từ lúc còn là một linh mục, Cha Wojtyla đã vận động để cuốn nhật ký của Nữ Tu Faustina được điều tra lại. Tuy nhiên, phải tới năm 1965, khi đã là Tổng Giám Mục Cracow, Đức Hồng Y Wojtyla mới cho khởi đầu diễn trình điều tra về đời sống và các nhân đức của vị Nữ Tu khả kính. Từ đó, Bà được vinh danh là Tôi Tớ Thiên Chúa. Diễn trình trên làm Tòa Thánh hoàn toàn thỏa mãn để đưa ra kết luận rằng lệnh cấm xưa kia dựa vào chứng cớ không đầy đủ do vấn đề giao thông khó khăn trong các năm chiến tranh giữa Ba Lan và Rôma gây ra. Kết quả: ngày 31 tháng Giêng năm 1968, Thánh Bộ Phong Thánh chính thức mở án phong chân phúc cho Nữ Tu Faustina và ngày 15 tháng Tư năm 1978, Văn Phòng Thánh đã bãi bỏ lệnh cấm đối với các hình ảnh và trước tác liên quan đến hình thức sùng kính Lòng Thương Xót Chúa của Bà. Sáu tháng sau, Đức HY Wojtyla lên ngôi Giáo Hoàng, lấy hiệu là Gioan Phaolô II.

Pha phôi

Nói đến tính đồng hương không có nghĩa để nhấn mạnh tới tính phe phái, cho bằng tính nhiệm cục trong đường lối quan phòng cứu độ của Thiên Chúa. Người dùng đủ mọi phương tiện để mang ơn cứu độ đến cho con người thời đại. Nói như Tổng Giám Mục Anh Giáo Desmond Tutu, Thiên Chúa đâu có vô tư, Người khá thiên vị, luôn nghiêng về người nghèo. Ở đây cũng thế, thiên vị để cứu độ luôn là cách Thiên Chúa hành động trong lịch sử.

Quả không còn điều gì quan trọng hơn việc nhấn mạnh đến Lòng Thương Xót của Chúa trong thời đại này, thời đại được rất nhiều người đồng ý mô tả là quá quắt, coi trời bằng vung, ngược ngạo cả với Đấng dựng nên mình. Người ta thi nhau dành đưa ra đủ phương thuốc hòng cứu vãn đà đi xuống thảm thương của con người. Nhưng nào có ăn thua gì. Những người ngược ngạo xem ra cứ thế gia tăng, làm chính những người không ngược ngạo cũng học theo ngược ngạo. Kết quả: không ngày nào các tiên tri mới của Chúa lại không bị nhạo cười, hành khổ, bách hại. Mười ngàn người được Giđêông tuyển, chỉ có 300 người biết dùng bàn tay múc nước sông lên uống, tỏ ra có trí người, chứ không có trí chó, gục mặt xuống mà táp nước sông như những người kia. Ngày nay, hình như tỷ lệ những người trước còn ít ỏi hơn, trong khi tỷ lệ những người sau tăng lên vô kể.

Chỉ có lòng thương xót của Chúa mới cứu vãn được tình thế tuyệt vọng. Thực ra, việc kêu cầu này không thụ động, há miệng chờ sung. Nó chỉ nhắc ta: thay vì dùng các phương thế vô ích khác, ta phải dùng “cuộc khổ nạn đau thương” theo mẫu của Chúa Giêsu để xoay chuyển tình thế. Và người thay đổi tình thế chỉ có thể là Thiên Chúa: “xin Chúa thương xót chúng con và toàn thế giới”. Tất cả chúng con đều đáng thương xót, và cả thế giới mênh mông ngoài kia, dù tội lỗi, ngạo ngược, vẫn đáng được Chúa xót thương. “Cuộc khổ nạn đau thương” chắc chắn không thụ động chút nào. Nhưng cũng không có gì gợi ý một chiến thắng, một ngạo nghễ, một kênh kiệu.

Tiếc rằng phương thức truyền bá vẫn có những hạn chế của nó. Còn nhớ buổi cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa tại Kellyville ở Sydney năm ngoái tạm ngưng vào lúc 5 giờ 30 chiều và chỉ tiếp tục lúc 8 giờ tối. Hơn 2 tiếng đồng hồ không biết làm gì, vợ chồng tôi quanh quẩn một hồi, đành tham dự Thánh Lễ với cộng đoàn giáo xứ Úc Đức Mẹ Mân Côi lúc 7 giờ tối. Nửa chừng Thánh Lễ, chúng tôi thấy đông anh chị em giáo dân Việt Nam khác cùng tới tham dự và khi cộng đoàn Úc ra về rồi, thì nhà thờ chật ních các đồng hương Việt Nam, có cả các hội đoàn ăn mặc đồng phục, có cả một ca đoàn hùng hậu, lại có cả ông Nhượng chuyên chuyển tiền cho đồng hương về Việt Nam, với lệ phí “discounted” cho các hội đoàn và dòng tu Công Giáo. Có lẽ vì giờ này, anh chị em đồng hương của chúng tôi mới tan sở làm và lo chuyện nhà cửa tươm tất cả rồi chăng?

Nghĩ thế, vợ chồng tôi tiếp tục ở lại tham dự thánh lễ với anh chị em. Hai thánh lễ trong một ngày, kể là kỷ lục đối với vợ chồng tôi. Và vì đã là kỷ lục, nên chúng tôi thấy không còn lý do gì để tiếp tục ở lại: nghĩ cho cùng, những gì cần giảng giải từ Cha Luân, chúng tôi đã nghe đủ. Chắc những người mới tới cũng chỉ để nghe những gì Cha Luân đã giảng giải từ 3 giờ tới 5 giờ 30 chiều.

Mấy ngày sau, vợ chồng tôi mới thấy mình lầm. Những người đến sau chúng tôi biết nhiều hơn về chương trình của Cha Luân, nên họ đã chọn “đúng lúc” mà đến. Vì sau Thánh Lễ mới là buổi “cầu nguyện” đặc biệt xin ơn Thánh Linh, trong đó, rất nhiều người được ơn đặc biệt. Hỏi kỹ thì là ơn được Cha Luân vừa rờ nhẹ vào trán đã ngã lăn xuống đất, bất tỉnh nhân sự.

Tôi có được nghe về hình thức này của đặc sủng Thánh Linh, mà có người cho là phát xuất lần đầu với các phong trào Thánh Linh Đặc Sủng của các sinh viên Tin Lành, sau lan qua Công Giáo. Tôi cũng có nghe một số chỉ trích về hình thức đặc sủng này. Nhưng cũng không thiếu người ủng hộ. Như Đức Tổng Giám Mục Hickey của Perth, Tây Úc. Trong cuốn “Sống Theo Thánh Kinh” của ngài mà tôi có chuyển qua Việt Ngữ và được nhà in của ngài phát hành mới đây, ngài rất ca tụng phong trào Thánh Linh Đặc Sủng. Thú thực, tôi chưa biết gì về Phong Trào này. Nhưng hình thức Thánh Linh Đặc Sủng mà Đức Tổng Giám Mục Hickey ca tụng nhất định không chủ trương lối cầu nguyện nhằm việc ngã lăn xuống đất bất tỉnh nhân sự, mà nhằm học hỏi Thánh Kinh dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần.

Lý do hiển nhiên, vì việc lăn xuống đất như thế không nằm trong các tác động của Chúa Thánh Linh. Bẩy ơn Chúa Thánh Thần và mười hai hoa trái của Người không hề có khoản này. Nó cũng không nói lên được một ý nghĩa tâm linh nào, ngoại trừ việc lôi kéo người ngưỡng mộ để ta tuyên truyền một điều gì. Nhưng các giáo dân vốn là những người thực hành đạo rồi, nghĩa là đã qua giai đoạn ấu trĩ như Thánh Phaolô nói rồi, không cần đến những hình thức lôi kéo như thế nữa. Ngoài ra, việc cầu xin Chúa Thánh Linh để được ơn ngã xuống đất không hề có trong thị kiến của Thánh Nữ Faustina và phong trào sùng kính Lòng Thương Xót Chúa, tại sao cần phải thêm, thiển nghĩ chỉ làm người giáo dân đang trưởng thành trở thành ấu trĩ, điều mà bản chất của phong trào này không hề dung dưỡng. Sau cùng, xin thưa với Cha Luân: cám ơn Cha, nhờ Cha vợ chồng con đã thực hành đúng cách và thường xuyên việc lần chuỗi Lòng Thương Xót Chúa từ ngày tham dự buổi hướng dẫn của Cha tại nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi, Kellyville, mà không cần tham dự phần sau, phần có những việc “ngã lăn” mà nhiều người cho là do Chúa Thánh Thần.