Tuần tĩnh tâm các Linh Mục Giáo Phận Phan Thiết
Thời gian: 9-13/01/2012
Chủ đề: Canh tân tình huynh đệ linh mục trong giáo phận.
Giảng phòng: Đức Cha Mathêu Nguyễn Văn Khôi – GM Phó Giáo phận Quy Nhơn.


Xem hình ảnh

Giáo Phận Phan Thiết tổ chức tuần tĩnh tâm cho các linh mục từ những ngày đầu năm mới.Toà Giám Mục với khuôn viên thoáng rộng, yên tĩnh tạo nên bầu khí tĩnh lặng nhẹ nhàng thích hợp cho tâm hồn trầm tư cầu nguyện. Tĩnh tâm là thinh lặng để nhìn lại. Từ thinh lặng đó các linh mục mới có thể nuôi dưỡng những suy tư của mình một cách lâu dài được. Bầu khí thinh lặng của tĩnh tâm cũng giúp các linh mục hồi tâm xét mình mà thực thi những lần sám hối cách đúng mức. Thinh lặng cũng là bác ái đối với những anh em linh mục khác chung quanh mình. Bầu khí thinh lặng cũng là bầu khí bên ngoài giúp cho cộng đoàn cũng như giúp cho từng linh mục sống tinh thần cầu nguyện. Và đồng thời tĩnh tâm cũng là một cơ hội để các linh mục gặp gỡ, giải quyết những phận vụ thiêng liêng của mình.

Đức cha Giuse Vũ Duy Thống, chủ toạ và giảng lễ mỗi ngày. Có 104 linh mục tham dự. Các cha hưu dưỡng cùng tham dự. 18 Thầy Phó Tế lần đầu tiên được tham dự tĩnh tâm cùng linh mục đoàn. Đức Cha Nicolas hiện diện trong các bữa cơm.

Chương trình các ngày tĩnh tâm đầy ắp sinh hoạt đạo đức:
Ban sáng: Kinh Sáng, Nguyện Gẫm, Thánh Lễ, Bài Giảng, Thinh Lặng
Xét Gẫm.
Ban trưa: Kinh Sách, Lần Chuỗi.
Ban chiều: Kinh Trưa, Bài Giảng, Thinh Lặng Xét Gẫm, Kinh Chiều.
Ban tối: Chầu Thánh Thể, Kinh Tối.
Giờ Thánh mỗi tối do các Cha Hạt Trưởng chủ sự và suy niệm trước Thánh Thể.
Cha Tổng Đại Diện giúp nguyện gẫm sau kinh sáng mỗi ngày.
Các Linh mục tham dự tuần tĩnh tâm sốt mến trong các giờ đạo đức, chăm chú lắng nghe các giờ giảng bài, thinh lặng cầu nguyện xét mình trong các giờ riêng tư, trao đổi kinh nghiệm mục vụ trong các giờ giải lao.
Đức Cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi, Giám mục Phó Giáo phận Qui Nhơn chia sẽ qua 6 bài giảng.


Chủ đề suy tư, cầu nguyện và sống trong Năm Thánh Giáo Hội Việt Nam 2010 vừa qua xoay quanh Giáo Hội dưới ba khía cạnh mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ. Trong cuộc Đại Hội Dân Chúa qui tụ các đại diện của mọi thành phần Dân Chúa trong 26 giáo phận và các dòng tu diễn ra vào tháng 11 năm 2010, hiệp thông và sứ vụ là hai đề tài được đề cập nhiều nhất, đặc biệt là sự hiệp thông. Điều đó thật dễ hiểu vì Giáo Hội Việt Nam đang gặp nhiều thánh đố và khó khăn trong sự hiệp thông và thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Người ta nói nhiều về vấn đề hiệp thông trong Giáo Hội tại Việt Nam khi có bao nhiêu biến cố đã xảy ra và được báo chí mô tả, tô đen hay cường điệu hóa như những dấu hiệu của một sự phân hóa giữa lòng Giáo Hội, xem đó như là một phản chứng gây trở ngại cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Không ai có thể xác định được tính thực hư hay mức độ trầm trọng của thực trạng ấy, nhưng mọi người đều cùng nhìn thấy đó như một dấu chỉ thời đại đòi buộc Giáo Hội tại Việt Nam phải canh tân mối hiệp thông để có thể thi hành sứ vụ dẫn đưa con người ngày nay đến với mầu nhiệm cứu độ.

Thư chung hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 23, đã viết: “Đại Hội Dân Chúa mong muốn Giáo Hội tại Việt Nam củng cố sự hiệp thông và tham gia trong đời sống Giáo Hội ở mọi cấp bậc, tạo điều kiện để mọi thành phần Dân Chúa tích cực tham gia vào đời sống và sứ vụ của Giáo Hội... Việc xây dựng một Giáo Hội hiệp thông và tham gia phải là mối quan tâm mục vụ hàng đầu của Giáo Hội tại Việt Nam trong những năm sắp tới”.

Sự hiệp thông trong Giáo Hội được xây dựng từ những mối quan hệ giữa các thành phần Dân chúa. Để xây dựng sự hiệp thông trong Giáo Hội, cần phải đổi mới các mối quan hệ ấy. Vì thế, Thư ngỏ của Công nghị Tổng giáo phận Sài Gòn 2011 với chủ đề Đổi mới để hiệp thông và chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng, số 5, đã viết: “Cần đổi mới các tương quan giữa giám mục và linh mục, giữa linh mục với nhau, giữa linh mục với tu sĩ và giáo dân, và giữa giáo dân với nhau, trong gia đình cũng như trong giáo xứ. Theo tinh thần Phúc Âm, những mối tương quan này cần được vun đắp bằng tình yêu thương, sự tôn trọng lẫn nhau, đồng cảm và tinh thần trách nhiệm”.

Trong những cuộc thảo luận theo nhóm, nhiều đại biểu tham dự Đại Hội Dân Chúa 2010 đã khẳng định rằng để canh tân Giáo Hội tại Việt Nam thì việc làm đầu tiên là phải đổi mới hàng linh mục, vì đó là những người có nhiệm vụ dẫn dắt Dân Chúa. Và nếu Giáo Hội nói chung phải củng cố và canh tân mối hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa ở mọi cấp bậc để có thể thi hành sứ vụ làm chứng cho Tin Mừng, thì trước hết cần phải củng cố và canh tân mối hiệp thông giữa các linh mục. Đó chính là nội dung những gì chúng ta sẽ cùng nhau suy niệm trong những ngày này dưới chủ đề CỦNG CỐ VÀ CANH TÂN TÌNH HUYNH ĐỆ LINH MỤC TRONG GIÁO PHẬN.

Đây không phải là một đề tài mới, vì tình huynh đệ hay tình yêu giữa anh em với nhau đã có ngay từ đầu, từ nơi Thiên Chúa, vì Ngài là tình yêu, như thánh Gioan tông đồ đã khẳng định trong bức thư thứ nhất của ngài (x. 1Ga 4,8.16). Cũng trong bức thư ấy thánh Gioan đã viết: “Anh em thân mến, đây không phải là một điều răn mới tôi viết cho anh em, nhưng là một điều răn cũ mà anh em đã có ngay từ lúc khởi đầu. Điều răn cũ ấy là lời mà anh em đã nghe. Nhưng đó cũng là một điều răn mới tôi viết cho anh em” (1Ga 2,7-8). Người ta kể lại rằng lúc về già, không còn sức đứng vững nữa, ngài vẫn bảo người ta khiên ngài trên một chiếc ghế đến giữa cộng đoàn và lần nào ngài cũng dạy chỉ có một ý: “Các con hãy yêu thương nhau”. Có người đến thưa với ngài: “Thưa cha, cha không còn gì để nói với chúng con nữa sao, mà cha cứ lặp đi lặp lại mãi một điều như thế?” Ngài trả lời: “Chỉ một điều ấy mà thôi, nếu các con tuân giữ thì cũng đủ rồi!”

Ngoài giáo huấn Thánh Kinh, những đề tài suy niệm của chúng ta còn dựa trên giáo huấn của Giáo Hội hoàn vũ và Giáo Hội địa phương, cụ thể là:

- Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục Presbyterorum Ordinis của công đồng Vaticanô II.
- Tông huấn về việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay Pastores dabo vobis của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
- Thư chung hậu Đại Hội Dân Chúa 2010 Cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Ban thư ký tuần tĩnh tâm đã tóm lược nội dung các bài giảng (x. gpphanthiet.net).

Bài 1.
Tình huynh đệ linh mục trong bối cảnh văn hóa hiện nay tại Việt Nam một thoáng nhìn qua.


- Bối cảnh văn hóa hiện nay tại Việt Nam bao gồm: văn hóa truyền thống, văn hóa hậu hiện đại và tiến trình toàn cầu hóa. Cả ba nét văn hóa này hòa quyện vào nhau cùng tồn tại và phát triển làm nên nét đặc trưng của bối cảnh văn hóa Việt Nam.

- Ảnh hưởng của bối cảnh văn hóa đối với tình huynh đệ linh mục

a. Ảnh hưởng của văn hóa truyền thống dân tộc

- Tích cực: văn hóa truyền thống chịu ảnh hưởng triết lý âm dương, đề cao sự hòa điệu và lấy tình làm gốc, khiến cho các linh mục dễ thành người của hiệp thông, tạo được tương quan hòa thuận hòa hợp, mềm dẻo bao dung, không xét nét hơn thua, không tranh chấp đố kỵ, nhưng nhẫn nhục và nhường nhịn, đối xử với nhau có tình có nghĩa.

- Tiêu cực: văn hóa truyền thống cũng tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với mối tương quan huynh đệ giữa các linh mục. Sự hòa điệu và hòa hợp nhiều khi bị biến dạng khiến các linh mục trở thành những người thiếu lập trường, xu thời, tiêu cực, không dám phát huy sáng kiến, cả nể hay sợ mất lòng nên không dám nói thẳng nói thật với nhau, không dám phê bình góp ý để giúp nhau thăng tiến. Vì quá thiên về tình cảm, thiếu tư duy logic và khoa học, nên nhiều khi làm việc theo hứng, không có nguyên tắc và chương trình hợp lý, khiến cho người khác không thể cộng tác với mình ; ngoài ra còn có nguy cơ dẫn đến thành kiến, óc bảo thủ hẹp hòi, cản trở sự hiệp thông. Tính cộng đồng quá đáng có thể khiến cho các linh mục không tìm cách phát triển cá nhân, lãng quên hay phủ nhận nét độc đáo và sự chọn lựa cá nhân, từ đó dẫn đến thái độ ỷ lại, đố kỵ và thiếu tinh thần trách nhiệm. Sự gắn bó quá nhiều với làng xã nhiều khi tạo nên nơi các linh mục tinh thần cục bộ, óc địa phương hẹp hòi, dễ làm nảy sinh những sự chia rẽ giữa những người có gốc gác khác nhau.

b. Ảnh hưởng của văn hóa hậu hiện đại

Văn hóa hậu hiện đại đề cao cá nhân và sự tự do cá nhân, khiến mỗi linh mục biết tôn trọng các anh em linh mục khác như những hữu thể độc đáo và tự do, có đủ mọi quyền lợi mà mình phải tôn trọng. Mỗi linh mục không phải là một con số bị mất hút trong linh mục đoàn, nhưng là những cá vị tạo nên linh mục đoàn. Mỗi người được tự do và được nâng đỡ khuyến khích để phát triển bản thân giữa lòng cộng đoàn, như cây rừng cùng lớn lên bên nhau.

Tuy nhiên, văn hóa hậu hiện đại có những bước đi phá cách quá trớn, tạo nên những ảnh hưởng tiêu cực trên linh mục đoàn. Một trong những ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa hậu hiện đại là tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. Điều này rõ ràng đi ngược lại bối cảnh văn hóa của Việt Nam là nơi mà giá trị của cộng đoàn được đề cao. Ngày nay tại Việt Nam người ta đang chứng kiến một sự đánh mất từ từ cảm thức thuộc về cộng đoàn và tình trạng xuống cấp của những tương quan giữa người với người, khiến cho nhiều linh mục dễ rơi vào nếp sống ích kỷ, chỉ biết có mình và qui chiếu mọi sự về chính mình chứ không về một điểm chung, sống xa cách và ít quan tâm đến nhau.

c. Ảnh hưởng của tiến trình toàn cầu hóa

Nhờ tiến trình toàn cầu hóa Việt Nam có thể hưởng lợi từ những công nghệ tiên tiến trên thế giới để cải tiến nền kinh tế cách nhanh chóng hơn. Nền kinh tế đất nước phát triển thì đời sống vật chất của các linh mục cũng được bảo đảm hơn. Những sự giúp đỡ của cộng đoàn quốc tế đối với Việt Nam, sau những năm dài bị cô lập của thời đóng cưả, góp phần tạo nên hình ảnh về một gia đình nhân loại với ý thức ngày càng cao và sâu sắc về sự liên đới, về sự tương liên và tương thuộc. Các linh mục ngày càng trở nên gần gũi, biết chia sẻ trách nhiệm và tương trợ lẫn nhau.

Nhờ tiến trình toàn cầu hóa, các tư tưởng tiến bộ về tự do, công bình và bình đẳng, sự tôn trọng phẩm giá và quyền con người và những kiến thức khoa học được phổ biến rộng rãi, khiến cho người Việt Nam nói chung và các linh mục nói riêng học được nơi các nước tinh thần cộng tác và làm việc chung, tinh thần phê phán. Nhờ tiếp xúc với nhiều lý thuyết, cách suy nghĩ và cách sống khác nhau, các linh mục dễ có thái độ cởi mở và thông cảm nhau hơn.

Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực kể trên, hiện tượng toàn cầu hóa cũng tạo nên những hậu quả tiêu cực không thể chối cãi. Kỹ thuật cao tạo nên sự phát triển và nâng cao đời sống con người nhưng đồng thời biến con người thành những cái máy, khiến các linh mục nhiều lúc chỉ chú trọng đến kết quả và sự hữu hiệu, không đối xử với nhau bằng tình nghĩa, như trong văn hóa truyền thống của dân tộc.

Bài 2.
Tìm về nguồn mạch của tình huynh đệ linh mục


Nguồn mạch của tình huynh đệ linh mục có thể được khám phá nơi mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, nơi cộng đoàn môn đệ xung quanh Đức Kitô, nơi mầu nhiệm hiệp thông Hội Thánh, nơi bí tích Thánh Thể và bí tích Truyền chức thánh. Chúng ta có thể phác họa sơ đồ định vị nguồn mạch này theo hình những vòng tròn đồng tâm. Tâm điểm là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, là nguồn mạch đầu tiên của mọi nguồn mạch. Tất cả mọi sự đều phát sinh từ đó và cuối cùng cũng đồng qui về đó. Từ cộng đoàn hiệp thông đầu tiên và khuôn mẫu là Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngôi Hai đã đi ra đến với con người và qui tụ xung quanh mình cộng đoàn huynh đệ gồm các môn đệ tiên khởi. Với biến cố tử nạn, Phục sinh và lên trời của Đức Kitô, vòng tròn môn đệ này đã được mở rộng hướng đến mọi dân tộc do sức mạnh của Chúa Thánh Thần và biến thành cộng đồng hiệp thông mang chiều kích hoàn vũ, đó là Hội Thánh. Hội Thánh là Nhiệm Thể Đức Kitô được nuôi dưỡng, xây dựng và lớn lên mỗi ngày nhờ bí tích Thánh Thể được cử hành khắp nơi cả ngày lẫn đêm theo vòng quay của trái đất, tạo thành một vòng tròn ôm gọn mọi hoạt động của Hội Thánh. Cuối cùng, cộng đoàn Hội Thánh được mở rộng và lên đường phục vụ mọi người nhờ việc thi hành thừa tác vụ linh mục được thúc đẩy bởi đức ái mục vụ, qua đó các linh mục thừa tác cùng với mọi thành phần Dân Chúa không ngừng ra đi “làm cho muôn dân thành môn đệ”, như lệnh truyền cuối cùng của Đức Kitô trước khi về trời (x. Mt 28,19-20).

Bài 3
Xác định lộ trình của tình huynh đệ linh mục.


Nếu nguồn mạch, nơi phát xuất của tình huynh đệ linh mục là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, cộng đoàn các môn đệ qui tụ xung quanh Đức Kitô, mầu nhiệm Hội Thánh, bí tích Thánh Thể và bí tích truyền chức thánh, và nếu nguồn mạch xác định dòng chảy của con sông theo kiểu agire sequitur esse, thì chúng ta có thể khẳng định rằng lộ trình của tình huynh đệ linh mục cũng được xác định bởi linh đạo hiệp thông được khám phá nơi mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, nơi cộng đoàn huynh đệ giữa các môn đệ Đức Kitô, nơi mầu nhiệm Hội Thánh, nơi sự kết hiệp với Đức Kitô và với nhau trong bí tích Thánh Thể và nơi việc thực thi đức ái mục vụ giữa các linh mục với nhau do bí tích truyền chức thánh đòi hỏi. Vì thế, Chỉ Nam Linh Mục, số 19, đã không ngần ngại gọi tình huynh đệ linh mục là linh đạo đặc thù của linh mục giáo phận.

Linh đạo linh mục giáo phận vừa có tính bí tích, vừa có tính mục vụ. Tình huynh đệ này là tình huynh đệ giữa những người được thánh hiến bởi bí tích truyền chức thánh, nên mang tính bí tích của sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa (x. 1Ga 4,7-21). Tính chất giáo phận của tình huynh đệ này không được diễn tả qua một định chế như tình huynh đệ trong các cộng đoàn dòng tu, nhưng mang tính mục vụ và hướng đến dân Chúa. Linh đạo linh mục giáo phận được tái khám phá nơi tình huynh đệ. So với hoạt động mục vụ, tình huynh đệ diễn tả sự hiệp thông trong Giáo Hội cách cơ bản hơn.

Bài 4:
Khám phá ý nghĩa và tầm quan trọng của tình huynh đệ linh mục.


Người ta kể chuyện có hai người tín hữu muốn sống nhiệm nhặt khắc khổ để đền tội. Họ vào hoang địa và tìm thấy hai cái hang nằm trên một sườn núi cheo leo, tuy không xa nhau lắm, nhưng không có lối qua lại. Họ rất hài lòng về vị trí thuận tiện của hai cái hang và bắt đầu sống cuộc đời khắc khổ trong sự cô liêu hoàn toàn. Sau đó cả hai cùng chết, nhưng không một ai hay biết. Một thời gian sau, có hai tên cướp bị truy nã chạy trốn vào vùng núi hoang dã ấy để ấp nấp. Tình cờ họ tìm thấy hai cái hang của hai tu sĩ trên đây và họ đã ở lại đó. Để tránh sự dòm ngó của nhà cầm quyền, họ khoác áo nhà tu và trở thành những tu sĩ bất đắc dĩ. Chiếc áo đôi khi cũng làm nên thầy tu! Quả thế, họ bắt đầu ăn năn sám hối vì tội ác mình đã phạm. Nhưng thay vì sống biệt lập cách xa nhau, họ tìm cách khai thông con đường nối liền hai chiếc hang. Dần dần với sức lao động kiên trì, một con đường nhỏ đã xuất hiện giữa họ và mỗi ngày họ đi thăm viếng an ủi lẫn nhau. Cùng với những bước chân, họ gieo vãi hai bên đường những giống hoa rừng mà họ tìm được trong vùng núi. Cuối cùng, con đường đầy hoa thơm cỏ lạ và làn hương thánh thiện của hai tu sĩ bất đắc dĩ đã đến tai người dân trong vùng lân cận và người ta đã bắt đầu đến xin gia nhập cộng đoàn để chia sẻ với nhau tình huynh đệ.

Câu chuyện trên đây cho chúng ta thấy tình yêu thương huynh đệ không những chứa đựng một ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống con người, nhưng nó còn đóng một vai trò rất lớn trong việc thăng tiến cá nhân các linh mục và góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng Hội Thánh và việc truyền giáo.

1. Ý nghĩa của tình huynh đệ

Xã hội tính của con người được khẳng định bởi mạc khải Thánh Kinh. Thiên Chúa là Tình yêu, là cộng đoàn hạnh phúc trọn vẹn gồm Ba Ngôi. Ngài muốn chia sẻ hạnh phúc của Ngài nên đã tạo dựng con người, để con người trở thành con Thiên Chúa và là anh em với nhau. Sau khi tạo dựng ông Ađam, Chúa nói: con người ở một mình không tốt, và Ngài đã dựng nên bà Eva. Đó là gia đình và cũng là cộng đoàn nhân loại đầu tiên được chính Thiên Chúa tạo dựng và chúc phúc, được xây dựng trên tình yêu thương đến độ hai người trở nên một xương một thịt. Từ đó, tận đáy thẳm tâm hồn, con người cảm thấy một nhu cầu sống với nhau và cho nhau. Chính từ cặp nhân loại đầu tiên đó, con người một khi được sinh ra thì tự nhiên là anh chị em với nhau. Vì thế Khổng Tử đã nói: “tứ hải giai huynh đệ”, nghĩa là bốn bể đều là anh em. Theo De Candido, “tình huynh đệ là một dữ kiện căn bản không phải chỉ thuộc về cấu trúc hữu thể của con người, nhưng còn nằm trong định nghĩa Kitô giáo về con người [...]. Con người là huynh đệ”.

Tình huynh đệ còn là bí tích hay dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Kitô, như Ngài đã nói: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy thì có Thầy ở đấy” (Mt 18,20). Bản chất của bí tích hay dấu chỉ là nó không hiện hữu cho mình. Là bí tích hay dấu chỉ của Đức Kitô giữa lòng thế giới: đó chính là sứ vụ của Hội Thánh. Ngoài ra, Hội Thánh cũng là dấu chỉ của Nước Trời trong viễn tượng mà ngôn sứ Isaia đã mô tả: “Ngày ấy, chó sói sẽ làm bạn với đàn chiên, beo cọp sẽ ở chung với em bé. Bò tơ và sư tử non sẽ ăn trên cùng một cánh đồng và một em bé sẽ dẫn dắt chúng. Bò và gấu sẽ ở với nhau, sư tử sẽ ăn cỏ như bò. Em bé sẽ chơi với rắn hổ mang và sẽ thò tay vào hang rắn độc. Sẽ không còn chết chóc trên núi thánh của Ta và khắp mặt đất sẽ được tràn đầy sự hiểu biết Thiên Chúa” (Is 11, 6-9). Đó là viễn tượng của thế giới thời cánh chung mà Hội Thánh được sai đi để loan báo và dấn thân thực hiện. Đây là một thế giới hòa giải, trong đó tất cả những lực đối kháng sẽ được hoá giải và người ta sẽ sống trong sự hiệp nhất và trong tình huynh đệ đại đồng.

Các linh mục là những người có ơn gọi để thi hành sứ mạng của Hội Thánh. Họ sẵn sàng đáp lại ơn gọi linh mục là vì họ cảm thấy nơi chính bản thân mình một khao khát muốn liên kết với những người cùng chung chí hướng xây dựng tình huynh đệ đại đồng của Nước Trời. Được sống chung với anh em, đó là một hạnh phúc. Cùng làm việc chung với anh em để xây dựng thế giới huynh đệ đại đồng, đó là một lý tưởng khiến cho cuộc đời của họ đầy tràn ý nghĩa. Trong một thế giới ngày càng bị xâu xé bởi hận thù và chia rẽ, họ muốn ra đi xây dựng tình thương huynh đệ, bắt đầu từ chính bản thân của mình, từ nhóm nhỏ của mình. Họ là những người ý thức tầm quan trọng của tình yêu thương huynh đệ trong cuộc đời của mình và vì vậy họ sẵn sàng dấn thân để xây dựng tình huynh đệ cho tha nhân.

2. Tầm quan trọng của tình huynh đệ đối với các linh mục

Không ai là một hòn đảo và không linh mục nào sống cuộc đời đơn độc. Tình huynh đệ linh mục vừa giúp các linh mục sống với nhau trong tương quan nhân vị, vừa giúp họ sống đời linh mục cách tốt đẹp, đồng thời góp phần đem lại hiệu quả và chất lượng cho công cuộc rao giảng Tin Mừng, để xây dựng Hội Thánh như một cộng đoàn hiệp thông huynh đệ giữa nền văn minh kỹ thuật phi nhân và một thế giới đang bị xâu xé bởi những hận thù và chia rẽ.

3. Tình huynh đệ linh mục và tương quan nhân vị

Chúng ta đang sống trong một thời đại kỹ thuật tiên tiến nhất từ trước đến giờ. Chính nền văn minh kỹ thuật đã dần dần biến con người thành những bộ máy được sản xuất đồng loạt. Thế giới hiện nay đang chứng kiến hai điều trái ngược nhau nhưng lại tồn tại chung với nhau. Một đàng, do ảnh hưởng của cá nhân chủ nghĩa với việc đề cao tự do cá nhân và tinh thần hưởng thụ, con người sống như chỉ biết có mình mà không biết đến kẻ khác. Nhưng đàng khác, do ảnh hưởng của văn minh kỹ thuật và tiến trình toàn cầu hóa, con người lại bị chi phối rất mạnh bởi kẻ khác, bởi môi trường xung quanh, đến độ nhiều khi họ phản ứng như một cái máy thiếu cá tính.

Trong một thế giới ngày càng chịu ảnh hưởng của máy móc đến độ phi nhân, chính tình huynh đệ giữa các linh mục là yếu tố quan trọng giúp họ thoát khỏi sự chi phối của qui luật máy móc, để có thể sống với nhau bằng mối tương quan nhân vị, sống có tình có nghĩa và tôn trọng lẫn nhau. Trong tình huynh đệ, mỗi người có một chỗ đứng quan trọng bất khả thay thế, và được nhìn nhận như người bạn đồng vai đồng vế cùng nhau chia sẻ ngọt bùi, chứ không bị lợi dụng như một thứ dụng cụ phục vụ lợi ích riêng tư của một ai. Khi tập sống trọn vẹn tình huynh đệ giữa anh em linh mục với nhau, các linh mục sẽ có khả năng đối xử với anh chị em giáo dân với tất cả sự yêu thương và kính trọng, thay vì coi họ như những người chỉ để sai khiến.

4. Tình huynh đệ và đời sống linh mục

Cũng như bất cứ cộng đoàn hay tập thể nào, linh mục đoàn được hình thành từ những con người bất toàn và đầy khuyết điểm. Cộng đoàn linh mục là nơi phát hiện các giới hạn, các nỗi sợ hãi và tính ích kỷ của mỗi người. Người ta khám phá ra sự nghèo nàn và những yếu đuối của mình, tình trạng bất lực trong việc hòa hợp với một số người. Bao lâu còn sống một mình, người ta nghĩ là mình có thể yêu thương hết mọi người. Bây giờ khi phải sống trong tương quan với người khác mới biết rõ mình không có khả năng yêu thương, mình chối từ người khác, mình đóng kín chính mình như thế nào. Đó là trường hợp thường thấy xảy ra giữa các cha xứ và cha phó.

Tuy nhiên, bên cạnh những khuyết điểm, những người trong linh mục đoàn cũng có những ưu điểm đáng cho người khác bắt chước. Cổ nhân có nói: “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư”, tức là trong ba người cùng đi với ta tất có một người làm thầy ta. Tục ngữ Việt Nam cũng có câu: “Học thầy không tầy học bạn”. Trong thư gửi tín hữu Côlôxê, thánh Phaolô cũng nhắn nhủ: “Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo lẫn nhau với tất cả sự khôn ngoan” (Cl 3,16).

Tình huynh đệ giúp mỗi người phát huy những điều thiện hảo của nhau. Bạn bè giúp ta thành người tốt nhất trong khả năng ta có thể. Họ giúp ta nhận ra những khả năng của mình, giúp ta mở rộng tầm nhìn và thoát khỏi cái nhìn hạn hẹp của mình. Như thế, khi thực thi tình huynh đệ, các linh mục giúp nhau thăng tiến. Nhưng việc thăng tiến này không thể được hiểu như là một sự thăng quan tiến chức theo kiểu các viên chức ngoài xã hội. Có lần một cán bộ được mời đến dự buổi tiệc mừng tân chức của một tân linh mục nọ. Nhìn thấy tấm banderole với hàng chữ “con là linh mục đời đời”, ông cán bộ kia vì không hiểu đúng ý nghĩa của câu Kinh Thánh ấy, nên đã buột miệng thốt lên: “Tại sao lại linh mục đời đời? Ông tân linh mục này còn trẻ mà, cần phải phấn đấu để lên cao hơn nữa chứ, chẳng hạn để giống như cụ giám mục!”

Tình huynh đệ trong đời sống linh mục còn được thể hiện qua sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Mỗi người lưu tâm đến những lúc chán nản, đau khổ, cô đơn, của những anh em khác; mỗi người sẵn sàng nâng đỡ những anh em gặp đau khổ buồn sầu vì những khó khăn và thử thách. Sống linh đạo tình huynh đệ, các linh mục được chữa lành khỏi mọi nỗi sợ hãi, hoài nghi và thiếu tin tưởng trong quan hệ xã hội; gia tăng sự thông cảm và hài hòa; khơi dậy sự khoan dung, đón nhận và đối thoại.

Trong một cộng đoàn huynh đệ chân chính, mỗi phần tử đều có tinh thần đồng trách nhiệm đối với sự trung thành của những người khác. Phẩm chất đời sống huynh đệ có ảnh hưởng quan trọng đối với sự bền chí của cá nhân linh mục. Phẩm chất nghèo nàn của đời sống huynh đệ vẫn thường được coi là lý do khiến người ta bỏ đời tu thế nào, thì việc sống sung mãn tình huynh đệ thường là một sự nâng đỡ quí giá cho sự kiên trì của nhiều người như thế.

Tình huynh đệ linh mục khiến các linh mục coi nhau như anh em trong một gia đình. Chính bầu khí huynh đệ cởi mở và thân thiện với nhau có sức giúp các linh mục vượt qua được những cám dỗ về đức khiết tịnh để giữ vững tình yêu trọn vẹn cho Thiên Chúa và tha nhân. Kinh nghiệm cho thấy linh mục nào không sống chan hòa tình huynh đệ với các anh em linh mục khác thì thường dễ sa ngã về vấn đề này. Đời sống khiết tịnh nhất thiết gắn liền với đời sống huynh đệ theo mô hình gia đình, vì đó là nơi thể hiện tình yêu và cũng là nơi được nâng đỡ trong tình yêu.

Gia đình là nơi mọi anh chị em sống tình huynh đệ cách thâm sâu và đặc biệt nhất. Vì thế đức khiết tịnh sẽ được gìn giữ cách vẹn toàn hơn cả khi có tình huynh đệ thực sự giữa các linh mục như trong một gia đình. Chính bầu khí huynh đệ đầm ấm giữa các linh mục khiến họ có thể vượt qua mọi cám dỗ về tính dục đối với người khác. Cũng như trong một gia đình, vợ hay chồng không thể đi ngoại tình với người ngoài nếu bầu khí gia đình luôn giữ được sự đầm ấm, con cái không tìm kiếm tình cảm bất chính ở bên ngoài khi giữa họ với nhau chan hòa tình huynh đệ. Không gì quan trọng đối với việc giữ đức khiết tịnh cho bằng sự cởi mở và tin tưởng không những đối với vị linh hướng, mà còn đối với những anh em linh mục nhiều kinh nghiệm. Thái độ chân thành, trong sáng đối với anh em linh mục là dấu hiệu của một lương tâm ngay thẳng. Bao lâu người ta còn sử dụng những hình thức che đậy và lẩn tránh anh em thì sự không trong sạch đã bắt đầu thấm nhập.

Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng cô đơn là một trong những lý do khiến các linh mục bị sa ngã vào những tình cảm bất chính. Nhiều anh em bỏ chức linh mục ra đi, có thể vì nhiều lý do, như sự quyến rũ của tình cảm, những bực bội không lối thoát, những đau khổ vì bị hiểu lầm, bị công kích, những chán nản vì thất bại..., nhưng còn phải kể đến sự cô đơn do thiếu vắng một tình huynh đệ chân thành trong hàng linh mục để làm nơi nương tựa. Sự cô đơn như một quả bom hẹn giờ sẽ bùng nổ khi đến thời điểm của nó, và lúc đó là cả một thảm họa. Tình huynh đệ linh mục là một trong những phương thế có thể giúp các linh mục tránh được sự cô đơn ấy như lời các nghị phụ Thượng Hội Đồng được Đức Gioan Phaolô II trích dẫn trong tông huấn Pastores dabo vobis, số 74: “Sự tham gia tích cực vào linh mục đoàn giáo phận, những tiếp xúc thường đều với giám mục và với các linh mục khác, sự cộng tác hỗ tương, đời sống chung hoặc huynh đệ giữa các linh mục với nhau, cũng như tình bạn và những mối quan hệ chân tình với những người giáo dân tích cực dấn thân trong các giáo xứ, đều là những phương thế rất hữu ích để thắng vượt những hậu quả của nỗi cô đơn mà đôi khi linh mục phải cảm nếm”.

Ngoài nỗi cô đơn, các linh mục còn cảm thấy bị cám dỗ lỗi đức khiết tịnh khi gặp những chuyện buồn phiền, những hoàn cảnhthất vọng. Vậy thì đừng để mình phải sống trong buồn phiền đau khổ, và cũng đừng gây nên đau khổ buồn phiền cho anh em khiến họ có thể phải sa ngã, và như thế chúng ta có phần trách nhiệm trong sự sa ngã của anh em. Một khi anh em linh mục thực sự yêu thương nâng đỡ nhau thì không một thứ tình cảm nào có thể chen vào làm hại được họ.

5. Tình huynh đệ linh mục đối với việc xây dựng Hội Thánh và công tác tông đồ.

Tình yêu thương huynh đệ không những có một tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống các linh mục, mà còn đối với việc xây dựng Hội Thánh và công tác truyền giáo. Bản chất của Hội Thánh là mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ. Với tư cách đó, Hội Thánh là bí tích và khí cụ Chúa dùng để qui tụ muôn dân nước thành một cộng đoàn hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau trong tình huynh đệ. Hội Thánh luôn năng động và không ngừng phát triển như hạt cải, như tấm men, như hat muối, như ánh sáng. Để có thể qui tụ muôn dân, trước hết Hội Thánh phải tự thể hiện như một cộng đoàn hiệp thông và hiệp nhất. Chính tình huynh đệ giữa các linh mục là yếu tố quan trọng góp phần vào công trình xây dựng mối hiệp thông trong Hội Thánh, như Đức Gioan Phaolô II đã khẳng định trong tông huấn Pastores dabo vobis, số 16: “Linh mục là tôi tớ của Hội Thánh xét như là hiệp thông, bởi vì trong sự hiệp nhất với giám mục và mối liên kết chặt chẽ với linh mục đoàn, linh mục xây dựng sự hiệp nhất của cộng đoàn Hội Thánh trong sự hòa điệu của nhiều ơn gọi, nhiều đặc sủng và nhiều hình thức phục vụ khác nhau”.

Ngoài việc xây dựng Hội Thánh, tình huynh đệ linh mục còn mang một giá trị truyền giáo không thể chối cãi được, như lời Đức Giêsu đã nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Quả thế, đức ái huynh đệ tự nó có giá trị truyền giáo, vì nó là dấu chỉ để mọi người nhận biết chúng ta là môn đệ Đức Kitô và nhờ đó họ dễ dàng đón nhận Ngài, khi họ nhìn thấy tình yêu của Ngài được thể hiện nơi chúng ta.

Đời sống linh mục có phong phú và mang lại hoa quả tốt đẹp cho công tác truyền giáo của Giáo Hội hay không, điều đó tùy thuộc rất nhiều vào phẩm chất của đời sống huynh đệ. Tình huynh đệ càng nồng nhiệt thì sứ điệp rao giảng càng đáng tin cậy, vì Hội Thánh là bí tích của sự kết hiệp giữa con người với Thiên Chúa và với nhau. Hiệp thông với nhau trong tình huynh đệ linh mục cũng là một ngôn ngữ mới trong công cuộc tân Phúc Âm hóa giữa thời đại mới, như lời Đức Gioan Phaolô II đã nói trong tông huấn Pastores dabo vobis, số 18: “Ngày nay, một cách đặc biệt, trách nhiệm mục vụ mà ưu tiên là “công cuộc tân Phúc Âm hóa” là trách nhiệm của toàn thể Dân Chúa và đòi hỏi một nhiệt tình mới, những phương pháp mới và một ngôn ngữ mới dành cho việc loan báo và làm chứng về Tin Mừng. Đòi buộc các linh mục phải triệt để và hoàn toàn đắm mình trong mầu nhiệm Chúa Kitô và phải có khả năng thể hiện một lối sống mục vụ mới, đánh dấu bằng một sự hiệp thông sâu xa với Đức Giáo Hoàng, với các giám mục và giữa các linh mục với nhau, và bằng một sự hợp tác sai hoa trái với giáo dân, tôn trọng và thăng tiến các vai trò khác nhau, các đặc sủng và các thừa tác vụ giữa lòng cộng đoàn Hội Thánh”. Và ở số 43 ngài nói tiếp: “Ngày nay hiệp thông là một trong những dấu chỉ hùng hồn nhất và là một trong những đường lối hữu hiệu nhất của sứ điệp Tin Mừng”.

Bài 5:
Phác họa lược đồ xây dựng tình huynh đệ linh mục


Tình huynh đệ là một dấu chỉ để mọi người có thể nhận ra chúng ta là những môn đệ đích thực của Đức Kitô, là khí cụ để xây dựng sự hiệp thông giữa lòng Hội Thánh và thế giới, là phương thế góp phần hữu hiệu vào việc rao giảng Tin Mừng… Tình huynh đệ là một cái gì triệt để và lâu dài: nó có giá trị cho những ngày buồn cũng như những ngày vui, giống như trong đời sống hôn nhân, tình huynh đệ linh mục cần phải được xây dựng mỗi ngày. Cần xây dựng tình huynh đệ linh mục dựa trên:

(1) Từ những đoạn Thánh Kinh …:khi tạo dựng loài người từ “một nguyên lý độc nhất” (Cv 17,26; x. St 1-2), Thiên Chúa đã đặt vào lòng con người mơ ước trở thành anh em với nhau nơi Ađam. Nhưng mơ ước đó chỉ thực hiện được sau một cuộc hành trình dài. Bởi vì lịch sử con cháu Ađam đã bắt đầu bằng một tình huynh đệ đổ vỡ qua việc Cain sát hại em mình là Aben (x. St 4,9). Chúa Giêsu, người anh cả của nhân loại đã đến để xây dựng lại tình huynh đệ nhân loại bị đổ vỡ ấy bằng lời giáo huấn và bằng cái chết của Ngài. Cuộc xây dựng ấy đã khởi đi từ cộng đoàn các môn đệ chung quanh Ngài ngày xưa thế nào, thì ngày nay cũng tiếp tục khởi đi từ cộng đoàn các linh mục là những kẻ đáp lại lời mời gọi của Ngài như các môn đệ ngày xưa.

(2) ... đến những chỉ dẫn của Hội thánh: trong Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục (Presbyterorum Ordinis), số 8, với tựa đề “Hiệp nhất và cộng tác huynh đệ giữa các linh mục”, sau khi khẳng định rằng nhờ bí tích truyền chức thánh tất cả các linh mục liên kết mật thiết với nhau bằng một tình huynh đệ do bí tích, hợp thành một linh mục đoàn duy nhất, cùng thi hành một thừa tác vụ tư tế duy nhất, cùng hướng về một mục đích duy nhất là xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô, công đồng Vaticanô II đã đưa ra một lược đồ 7 điểm nhằm xây dựng tình huynh đệ linh mục như sau:

- “Mỗi linh mục hợp nhất với các anh em linh mục khác bằng mối dây bác ái, cầu nguyện và cộng tác dưới mọi hình thức”.

- “Những linh mục lớn tuổi hãy thực sự đón nhận các linh mục trẻ như là những người em và hãy giúp đỡ họ trong những công tác cũng như những gánh nặng đầu tiên của thừa tác vụ; hơn nữa, các ngài nên cố gắng hiểu biết tâm trạng của họ, dù khác với tâm trạng mình, và theo dõi các công việc của họ với lòng nhân hậu. Cũng thế, các linh mục trẻ phải kính trọng tuổi tác và kinh nghiệm của các vị lớn tuổi cũng như phải bàn hỏi với các ngài về những vấn đề liên quan đến việc coi sóc các linh hồn và sẵn lòng cộng tác với các ngài”.

- “Trong tinh thần huynh đệ đó, các linh mục đừng quên lòng hiếu khách (Dt 3,1-2), phải lo làm việc thiện và san sẻ của cải (Dt 13,16), nhất là phải chú tâm đến những vị đau yếu, phiền muộn, lao lực, cô đơn, bị đày ải và ngay cả những vị bị bách hại (Mt 5,10).

- “Các ngài cũng hãy sẵn lòng và vui vẻ họp nhau để tĩnh dưỡng tâm hồn, vì nhớ lại những lời mà chính Chúa đã mời gọi các tông đồ mệt mỏi: “Các con hãy đến nơi thanh vắng và nghỉ ngơi một chút”(Mc 6,31)”.

- “Ngoài ra, để giúp nhau vun trồng đời sống thiêng liêng và trí thức, để có thể cộng tác với nhau đắc lực hơn trong thừa tác vụ, và để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra do sự cô đơn, các linh mục phải cổ võ một đời sống chung, hoặc một lối sống cộng đoàn nào đó. Việc này có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau tùy những nhu cầu khác biệt thuộc cá nhân hay mục vụ: như ở chung nơi nào có thể hoặc ăn chung, hoặc ít là có những cuộc họp mặt thường xuyên và định kỳ”.

- “Cũng nên thành lập và nhiệt liệt khuyến khích các hiệp hội linh mục mà nội qui đã được giáo quyền hữu trách chuẩn nhận, những hiệp hội này cổ võ các linh mục nên thánh trong khi thi hành thừa tác vụ bằng cách tổ chức một đời sống thích nghi đã được thỏa thuận với nhau bằng sự tương trợ huynh đệ; như vậy những hiệp hội đó hướng về việc phục vụ toàn thể hàng linh mục”.

- “Sau hết, vì liên kết với nhau trong chức linh mục như thế, nên các ngài phải biết rằng mình đặc biệt có trách nhiệm đối với những vị đang gặp những hoàn cảnh khó khăn; các ngài phải kịp thời giúp đỡ, và nếu cần phải khuyên bảo một cách tế nhị. Đối với những vị khiếm khuyết về một vài vấn đề nào đó, các ngài phải luôn lấy tình bác ái huynh đệ và quảng đại mà đối xử, lại phải cầu nguyện rất nhiều với Chúa cho các vị đó, và phải luôn tỏ ra mình là anh em bạn hữu đích thực của họ”.

Bài 6:
A. Điểm nhấn thực hành 1: sửa lỗi, tha thứ và nâng đỡ nhau trong tình huynh đệ linh mục.

1. Giúp nhau sửa lỗi

Con người là một hỗn hợp của ánh sáng và bóng tối, ưu điểm và khuyết điểm, vị tha và vị kỷ, trưởng thành và ấu trĩ. Là con người, ai cũng có những lúc sai lỗi, như câu ngạn ngữ La-tinh đã được tác giả H. Petitmangin dùng làm câu mẫu về ngữ pháp trong Grammaire latine: “Errare humanum est”. Là con người, ai cũng có những khuyết điểm, như người ta thường nói: “Nhân vô thập toàn”. Các linh mục không chỉ giúp nhau khi đau ốm, bệnh tật, khi gặp hoạn nạn đau buồn, mà còn phải giúp nhau sửa sai. Tính chất lành mạnh của linh mục đoàn không chỉ dựa trên sự thánh thiện của từng linh mục riêng rẽ, mà còn dựa trên mối tương quan giữa các linh mục có khả năng làm cho người anh em phạm lỗi chỗi dậy hay không. Đó là một việc khó khăn, tế nhị, đòi hỏi một tình huynh đệ chân thành và một đức khiêm nhường cao độ. Khiêm nhường không những nơi người được sửa sai mà còn nơi người sửa sai.

Nếu ta là người được sửa lỗi, ta hãy khiêm tốn đón nhận với sự cởi mở và lòng biết ơn. Thomas Kempis đã nói: “Ai nhận ra mình lầm lẫn, chứng tỏ rằng người ấy hôm nay khôn ngoan hơn hôm qua”. Sự cởi mở giúp ta nhận ra sai lầm của mình cách tự nhiên và dễ dàng, nếu có. Trong trường hợp không liên quan đến việc sửa lỗi, nhưng đến các góp ý của người khác về lời nói, cử chỉ, hành động hay thái độ của ta, thì ta có thể đón nhận chúng cách có phê phán. Ta có thể bỏ ý kiến của mình để theo ý kiến của người khác khi ta thấy rõ mình đã lầm. Nhưng cả khi ta nghĩ là phải bảo vệ ý kiến của mình, ta cũng nên cởi mở để đón nhận ý kiến của người khác.

2. Tha thứ cho nhau

Tha thứ là bài học quan trọng mà Chúa Giêsu thường dạy cho nhóm môn đệ của Ngài cũng như cho mọi người. Có thể nói đó là một nét đặc trưng của giáo huấn Tin Mừng, phát xuất từ gương mẫu của Thiên Chúa Cha và của Chúa Giêsu, cũng như từ bản chất của Hội Thánh là một cộng đoàn yêu thương huynh đệ. Nếu sự tha thứ là một bổn phận của các kitô hữu đối với nhau, thì nó càng là bổn phận giữa hàng linh mục là những anh em với nhau trong chức thánh. Giữa các linh mục với nhau vốn có một tình huynh đệ rất trân trọng. Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng trong thực tế nhiều lúc các linh mục vẫn không tránh khỏi những xích mích, nóng nảy gây xúc phạm đến nhau, nhất là trong tương quan giữa các cha xứ và các cha phó. Đã có trường hợp các giáo dân phải thốt lên: “Các cha với nhau mà còn vậy... huống chi là chúng tôi!” Quả thật, bài học tha thứ không phải lúc nào cũng dễ thực hành.

- Tha thứ là tìm kiếm một cái nhìn mới về các mối tương quan giữa anh em với nhau.

- Tha thứ không phải chỉ là được giải thoát khỏi gánh nặng đau đớn của mình, nhưng cũng chính là giải thoát người khác khỏi gánh nặng của phán đoán nghiêm khắc mà ta có về họ, là khôi phục trong mắt ta phẩm giá của họ. Theo chuyên gia tâm lý Martin Saligman, người ta bị tổn thương nhiều do sự giải thích của chính mình về một biến cố khó chịu hơn là do chính biến cố đó. Do đó, để tha thứ, cần tìm hiểu để biết rõ sự việc, nhất là để hiểu kẻ xúc phạm mình. Hiểu kẻ xúc phạm chính là khám phá được giá trị và phẩm giá của họ, khám phá những nét tích cực của họ.

- Cùng với sự tha thứ tội lỗi, cũng phải chấp nhận những khuyết điểm của con người như Chúa Giêsu.

- Tha thứ không phải là một cử chỉ xóa sạch sự xúc phạm - điều này trong thực tế không thể làm được, vì sự xúc phạm mà ta tha thứ vẫn mãi mãi làm thành phần của lịch sử đời ta - nhưng là một cử chỉ tin tưởng ở tha nhân. Để có thể tha thứ, điều thiết yếu là phải tiếp tục tin tưởng vào phẩm giá của kẻ đã gây nên thương tổn. Ta phải khám phá ra nơi người ấy một hữu thể mỏng giòn và yếu đuối như ta, một con người có khả năng thay đổi và thăng tiến. Phải cố gắng trung thực nhìn thấy các ưu điểm của người ta không ưa. Chắc chắn họ cũng có những ưu điểm, kể cả những ưu điểm mà ta không có.

3. Nâng đỡ nhau trong tình huynh đệ

Linh muc đoàn chúng ta được hình thành từ những con người có cá tính và những khả năng khác nhau. Nhưng đó là một cộng đoàn huynh đệ trong đó mọi người nhìn nhận và đối xử với nhau như anh em. Cuộc sống huynh đệ có nhiều thử thách nhưng cũng nâng đỡ tình bác ái, như cây trên rừng che chở nhau khỏi ngã lúc gió bão. Chúng ta có những điểm khác biệt, nhưng đồng thời cũng có những điểm giống nhau, đó là điều có lợi và cần thiết để thể hiện tình yêu huynh đệ, như Geraldy đã nói: “Cần giống nhau một chút để hiểu nhau, nhưng cần khác nhau một chút để yêu nhau”.

B. Điểm nhấn thực hành 2: Xây dựng tình huynh đệ linh mục bằng niềm vui và nụ cười

Hằng năm, khi mùa đông chấm dứt, khi những mây đen đã tan hết thành mưa và rơi xuống đất, khi mặt trời bắt đầu nở nụ cười với vạn vật bằng những tia sáng tươi vui và ấm ám, thì mọi người cũng mỉm cười với nhau, trở nên gần gũi và thân tình với nhau hơn. Với niềm vui trong lòng, người ta trở nên cởi mở và dễ dàng nối kết với nhau, coi nhau như anh em một nhà, sẵn sàng xí xóa mọi bất hòa. Nụ cười nở rộ ở đâu thì ở đó sẽ có nhiều người tập họp lại. Trong cuộc sống bon chen vật lộn hằng ngày với canh cánh nỗi lo cơm áo gạo tiền, nụ cười ngày càng trở nên hiếm hoi như nụ hồng trong mùa nắng hạn. Người ta mong sao có được những giây phút thoải mái với những bạn bè thân thiết, để mặc cho những câu chuyện nhiều khi không đầu không đuôi, từ con cà con kê cho đến con dê con ngỗng, cứ thế mà nối tiếp nhau, hết người này đến người khác tham gia, bầu khí trở nên sôi động bằng những tiếng cười rộn ràng như pháo tết. Khi cuộc gặp gỡ đã trôi qua, người ta thấy đọng lại nơi mình một kỷ niệm khó quên, những nỗi nhớ không tên, nhưng có sức xây dựng tình nghĩa anh em. Tình huynh đệ giữa các linh mục trong cùng một giáo phận không chỉ được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, không chỉ được hướng dẫn bằng giáo huấn của Hội Thánh, nhưng còn được xây dựng bằng niềm vui và những nụ cười.

Trong một xã hội nặng về kỹ thuật khiến con người ngày càng trở nên như những cái máy, người ta muốn tìm lại cho mình một khuôn mặt nhân bản hơn, nên đã định nghĩa con người là một con vật biết cười, vì cười là nét đặc trưng của con người khác với các sinh vật khác. Và nếu theo mạc khải Thánh Kinh con người là hình ảnh của Thiên Chúa, thì nụ cười cũng là một nét đặc biệt trong hình ảnh ấy, nụ cười cũng phát xuất từ Thiên Chúa.

1. Nụ cười của Thiên Chúa

Trong tác phẩm Thiên Chúa và trần thế, ký giả Peter Seewald đã hỏi Đức Hồng Y Joseph Ratzinger như sau: “Chúa luôn tỏ ra nghiêm nghị, hay Ngài cũng có khi hài hước?” Đức Hồng Y trả lời: “Tôi tin rằng Ngài nhiều hài hước. Đôi khi Ngài đẩy nhẹ ta một cái và nhắc nhở: này con, đừng xem trọng mình! Hài hước thực ra là một thành phần trong bức tranh tươi vui của thụ tạo. Nếu để ý, ta thấy Chúa nhiều lúc trong cuộc sống cũng muốn ta đừng quan trọng hóa vấn đề, hãy hạ mình xuống, hãy nhìn khía cạnh tươi vui và đừng quên mặt hài hước của cuộc sống”. (J. RATZINGER, Thiên Chúa và trần thế, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội 2011, tr. 15).

Thiên Chúa là nguồn vui của nhân loại, chính Ngài ban tặng niềm vui và nụ cười cho con người, như lời bà Xara đã nói: “Thiên Chúa đã làm cho tôi cười” (St 21,6). Đức Kitô, hình ảnh tuyệt vời của Thiên Chúa cũng là con người của niềm vui, vì Ngài đã đến trần gian để loan báo tin vui của ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại. Khi còn trong dạ mẹ, Đức Kitô đã đem lại niềm vui cho gia đình ông Giacaria và bà Elisabeth, đã khiến cho Gioan Tiền Hô nhảy mừng trong lòng mẹ. Ngày Ngài giáng sinh, các thiên thần đã loan báo tin vui cho các mục đồng thành Bêlem.

Kinh Thánh không chỗ nào nói Chúa Giêsu cười, nhưng qua những câu chuyện do Tin Mừng thuật lại chúng ta có thể suy đoán rằng Ngài cũng vui cười và có óc khôi hài. Nếu Ngài không nở nụ cười hồn nhiên hiền hậu trên môi thì chắc chắn các em thiếu nhi không dám đến với Ngài thường xuyên như thế. Ngài sẵn sàng đến chia sẻ niềm vui ngày cưới với một gia đình tại Cana và đã hào phóng làm phép lạ đầu tiên biến sáu chum nước lã thành rượu ngon hảo hạng để tiệc cưới được tràn đầy hân hoan. Qua những phép lạ chữa lành bệnh tật, Ngài đem lại niềm vui cho những người đau khổ bất hạnh. Bằng sự tha thứ, Ngài phục hồi niềm vui cho những lương tâm bị tội lỗi đè nặng.

Trong giáo huấn của Ngài chúng ta thường gặp thấy những chủ đề về niềm vui như tiệc cưới, niềm vui của người chăn chiên tìm lại được con chiên bị lạc, của người đàn bà tìm lại được đồng bạc bị mất, của người cha gặp lại đứa con hoang đàng, vv. Ngài cũng có nhiều câu nói dí dỏm như: “Mù dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố”. Nhiều khi Ngài cũng khôi hài, chẳng hạn khi đến nhà con gái của ông Giairô, trưởng hội đường, thấy người ta thổi kèn đám ma trước xác chết của em, Ngài nói: “Em bé không chết đâu, nó ngủ đấy thôi”, khiến nhiều người cười Ngài.

Khi thánh Phêrô hỏi Ngài rằng khi bị anh em xúc phạm thì phải tha thứ bao nhiêu lần, có phải đến bảy lần không, thì Ngài đã trả lời với lối chơi chữ thật sâu sắc mà cũng rất vui: “Thầy bảo anh: không phải tha thứ đến bảy lần, mà đến bảy mươi lần bảy”.Trong vụ án người phụ nữ bị các luật sĩ và biệt phái tố cáo phạm tội ngoại tình, Ngài bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội thì hãy ném đá chị ấy trước đi”. Và thế là mấy ông âm thầm rút lui, từ người già nhất đến người trẻ nhất. Thật là buồn cười.

Trong bữa tiệc ly khi Ngài nói với các môn đệ rằng đã đến giờ họ phải chiến đấu, một cuộc chiến đấu thiêng liêng, với kiểu nói tượng trưng: “Ai chưa có gươm thì hãy bán áo đi mà mua” (Lc 22,36); các môn đệ không hiểu ý Ngài nên đã thưa: “Lạy Chúa, đã có hai thanh gươm đây” (c. 38). Ngài liền bảo: “Đủ rồi!” (c. 38). Theo cách giải thích của các nhà chú giải Thánh Kinh, hai chữ “đủ rồi” không có ý nói về hai thanh gươm, nhưng có ý nói về sự ngu dốt của các môn đệ: “Đủ rồi sự ngu dốt của các anh !” hoặc: “Thôi đủ rồi! Đừng chậm tiêu như vậy nữa!” Từ lâu nay Ngài vẫn dạy sự hiền lành, tha thứ, không chống cự lại với người khác, chứ có bao giờ Ngài dạy dùng bạo lực đâu. Thế mà đến giờ phút ấy các môn đệ vẫn không hiểu lời dạy của Ngài, thậm chí Phêrô còn mang gươm vào vườn Giêtsêmani và chém đứt tai tên đầy tớ thượng tế, khiến Ngài phải quở trách: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52).

2. Niềm vui đời linh mục

Linh mục là con người theo chân Đức Kitô, và trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, vì vậy linh mục cũng phải là con người của niềm vui, vừa cảm nghiệm được niềm vui trong cuộc đời linh mục, vừa thi hành tác vụ linh mục để đem lại niềm vui cho kẻ khác.

Trong những ngày vừa qua các mạng thông tin có giới thiệu một cuốn sách nhan đề là Why priests are happy ?, của Đức Ông Rossetti, do nhà xuất bản Ave Maria Press phát hành ngày 12-10-2011, trong đó tác giả cho thấy các linh mục nói chung thuộc nhóm người hạnh phúc nhất trong xã hội, mặc dù trong những thời gian gần đây có một số linh mục bị tố cáo về tội lạm dụng tình dục trẻ em, nhưng đó chỉ là con số nhỏ giữa một đa số linh mục đang sống hết mình với ơn gọi và cảm thấy thực sự hạnh phúc. Chỉ vì tư lợi cá nhân và mục tiêu riêng, một số người và một số báo chí đã thổi phồng chuyện các linh mục lạm dụng tình dục trẻ em, nhưng lại cố tình bỏ quên con số rất lớn các linh mục thánh thiện đạo đức kia.

Tác giả của quyển sách là một nhà tâm lý chuyên sâu nên những nhận định của ông có một giá trị đáng kể. Trả lời phỏng vấn của phóng viên Geneviere Pollock của hãng thông tấn Zenith, tác giả nói rằng đã có một số nghiên cứu ở Mỹ trong vài năm qua với các phát hiện chính xác như sau: khoảng 90% các linh mục nói rằng họ hạnh phúc. Trong nghiên cứu của tác giả tỉ lệ này lên đến 92,4%.

Các linh mục là những người hạnh phúc nhất bởi vì họ ý thức mình được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và sai đi rao giảng Tin Mừng. Trong cuộc đời thường ai cũng cảm thấy sung sướng khi đem tin vui đến cho kẻ khác, phương chi đó là tin vui về ơn tha thứ và tình thương của Thiên Chúa. Các linh mục hạnh phúc vì họ thoát ly mọi ràng buộc của cuộc đời trần thế để hết tình theo đuổi lý tưởng. Cuộc đời thật có ý nghĩa và tràn đầy hạnh phúc khi có một lý tưởng để theo đuổi, phương chi đó là lý tưởng về việc xây dựng Nước Trời. Các linh mục cảm thấy hạnh phúc vì bên cạnh mình, chung quanh mình, đi trước và đi sau mình, có những anh em cùng chia sẻ lý tưởng ấy với mình và cùng đồng hành, nâng đỡ mình. Đó là niềm vui của tình huynh đệ linh mục. Bất kỳ ở đâu, khi gặp một linh mục, cho dù chưa hề quen biết, ta vẫn cảm thấy thật gần gũi và thân thương như thể đã quen nhau từ lâu: tay bắt mặt mừng, hỏi han đủ chuyện.

Huấn thị của Bộ Tu sĩ về đời sống huynh đệ trong cộng đoàn Congregavit nos in unum Christi amor, số 28, đã dạy: “Cuối cùng, chúng ta không được quên rằng sự bình an và hoan lạc trong đời sống chung là những dấu chỉ của Nước Thiên Chúa. Niềm vui sống cả giữa những khó khăn gặp phải trên hành trình thiêng liêng và nhân bản, và cả giữa những phiền muộn hằng ngày cũng đã là một phần của Nước Trời... Tình huynh đệ không có niềm vui là tình huynh đệ đang chết, sớm muộn các thành viên sẽ bị cám dỗ đi tìm ở nơi khác điều mà họ không thể tìm thấy trong cộng đoàn của mình. Một tình huynh đệ đầy niềm vui là ân huệ từ trên ban cho anh em, chị em, là những người biết cầu xin và biết chấp nhận nhau, phó thác cho đời sống huynh đệ, tin tưởng vào hành động của Chúa Thánh Thần. Do đó lời thánh vịnh đã được ứng nghiệm: “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau... Nơi đây ân huệ Chúa ban, chính là sự sống chứa chan muôn đời” (Tv 132,1-3)...

Chứng từ niềm vui là sự lôi cuốn mãnh liệt vào đời sống tu trì, là nguồn phát sinh những ơn gọi mới và khích lệ bền đỗ”.

Nếu người ta nói: “Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn”, thì người ta cũng có thể nói như vậy về các linh mục: “Một linh mục buồn là một linh mục đáng buồn”, vì không thu hút được ai. Cũng như một đóa hoa nở ra và quyến rũ người chiêm ngắm thế nào thì niềm vui nở trên khuôn mặt một linh mục cũng có sức lôi cuốn người ta đến với ngài để ngài dẫn đưa họ đến với Thiên Chúa như thế.

3. Xây dựng tình huynh đệ linh mục bằng niềm vui và nụ cười

Tình huynh đệ linh mục trở nên mặn nồng ấm áp không những nhờ những niềm vui thiêng liêng do đức ái mục vụ đem lại, mà còn nhờ những nụ cười. Cười là một đặc tính riêng biệt của con người, đến độ có người đề nghị đưa ra một định nghĩa mới về con người: “con người là một con vật biết cười”, như trên đây chúng ta đã nói. Nơi con người, nụ cười là dấu ấn của Thiên Chúa. Con người là loài duy nhất mà Thiên Chúa đã phú ban cho cái quyền lực của tiếng cười. Súc vật không biết cười. Và khi con người trở nên sói dữ đối với nhau thì họ không còn cười nữa (R. Choin).

Ngoài ra, tiếng cười mang xã hội tính: ai bắt đầu mỉm cười sẽ tạo được hạnh phúc quanh mình và nụ cười sẽ trở lại với người ấy qua nụ cười của những người xung quanh. Vì thế Đức Hồng Y Suenens đã nói: “Mỉm cười, đó là nhìn người khác với đôi mắt Thiên Chúa, là một tia sáng phát xuất từ khuôn mặt Thiên Chúa và nói với người khách lạ rằng họ đã được nhận biết và chấp nhận làm anh em với ta”. Vì tiếng cười là của riêng con người và có sức tác động lên những người chung quanh, nên nó mang tính nhân bản và văn hóa, có sức cải hóa và xây dựng con người, đồng thời góp phần xây dựng và tô điểm đời sống chung.

3.1. Tính nhân bản và văn hóa của óc khôi hài và những nụ cười

Không phải ai cũng biết khôi hài, nhưng dường như ai cũng thích khôi hài. Tờ báo nào cũng có mục vui cười và ngay cả có những tờ báo dành hoàn toàn cho những chuyện cười, chẳng hạn tờ Tuổi Trẻ Cười. Chương trình văn nghệ nào cũng có những mục hài, và đây thường là những mục ăn khách nhất. Hầu như gia đình Việt Nam nào, cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài, cũng đều có những băng hay đĩa ca nhạc hài hay kịch hài. Khi có một băng hay đĩa hài nào mới ra, nhất là do những nghệ sĩ hài nổi tiếng diễn xuất, người ta đổ xô đi mua. Người ta xem đi xem lại nhiều lần các chương trình hài mà vẫn không thấy chán. Những câu nói hài ý nhị được người ta học thuộc lòng và trích dẫn thường xuyên trong những cuộc gặp gỡ thân hữu. Đó là một hiện tượng văn hóa có sức mạnh bùng nổ khắp nơi, vừa đem lại những giây phút thư giãn thoải mái như câu kết trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du: “Mua vui cũng được một vài trống canh”, giúp giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống bon chen vật lộn với miếng cơm manh áo hằng ngày, vừa trở thành khí cụ sắc bén giúp sửa chữa những cái sai cái xấu trong xã hội. Mahatma Gandhi viết: “Óc khôi hài là cây gậy giữ thăng bằng khi chúng ta đang bước đi trên sợi dây cuộc đời. Nếu chúng tôi không có óc khôi hài thì chắc chắn chúng tôi đã tự tử lâu rồi”.

Trong những nền văn hóa cổ xưa, người giúp vui thường có địa vị ngang hàng với các tư tế. Cả tư tế và người giúp vui luôn luôn hiện diện để nhắc nhở dân chúng về các giá trị quan trọng của nền văn hóa. Tất cả các diễn viên hài đều có một điểm chung: họ có thể làm cho tâm hồn khán thính giả rung động. Cũng như các ngôn sứ, họ không chỉ lên án thế giới, nhưng một cách nào đó họ đem lại cho chúng ta một niềm hy vọng. Nụ cười khôi hài bao giờ cũng thân thiện và nhạy cảm, bao giờ cũng là dấu chỉ của văn hóa nhân loại.

Theo định nghĩa của Encyclopedia Britanica, tính khôi hài có thể được diễn tả như một cảm quan giúp chúng ta nhìn nhận cách khoan dung những cái nghịch thường, lập dị của cuộc đời, và rồi chúng ta dùng lời nói, văn chương hay những loại hình nghệ thuật khác để nói lên cảm quan đó. (x. “Humor” trong Encyclopedia Britanica, quyển 11, 1959, tr. 885-887.) Để có một định nghĩa ngắn gọn về óc khôi hài, ta có thể nói như sau: khôi hài chính là khả năng biết cười trong mọi hoàn cảnh.

Tại Tây Phương, từ thế kỷ XIX, óc khôi hài có thể được kể vào số các đức tính cột trụ của những người nói tiếng Anh. Khôi hài cho thấy một nét đẹp nhất của nếp sống Anh Mỹ. Những nền văn hóa này đã cho ra đời các vĩ nhân hài hước như Dickens chẳng hạn. Người Trung Hoa có những câu châm ngôn rất dễ thương về nụ cười: “Người không biết mỉm cười thì không nên mở cửa hàng”; “một nụ cười không đáng giá là bao nhưng làm nên tất cả”; “nụ cười chỉ trong khoảnh khắc, nhưng âm hưởng của nó trải dài cả một đời người”. Người Việt Nam chúng ta cũng thường nói: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ!”

Dĩ nhiên có nhiều sắc thái hàm ẩn trong nụ cười. Có nụ cười bí hiểm nhằm che giấu linh hồn mình hơn là bộc lộ. Có nụ cười hoài nghi nhằm nói lên sự ngờ vực đối với tha nhân và tình trạng đề cao cảnh giác nội tâm của mình, hay sự bất cần của mình đối với tất cả những gì xung quanh. Có nụ cười khinh miệt diễn tả thái độ trịch thượng của mình đối với tha nhân. Có những nụ cười mỉa mai, nhạo báng do sự kém cỏi của tâm hồn. Nó không xây dựng được gì cả, chỉ phá hủy.

Nhưng đó chỉ là nhữnh hình thức băng hoại của nụ cười. Đúng ra nụ cười chỉ có thể được sử dụng để mạc khải cái ngã thâm sâu của mình với tất cả sự thân tình. Trường hợp các em bé chứng tỏ điều ấy: bao lâu các em không cười, các bà mẹ có cảm tưởng như chỉ có một nửa con người của các em thôi. Các bà cưng chiều, âu yếm, và khi nụ cười xuất hiện trên đôi môi đứa bé, các bà cảm thấy sảng khoái tuyệt vời. Một tâm hồn bé thơ vừa tự bộc lộ. Nụ cười là một bông hoa mà Thiên Chúa đã sớm đặt trên môi miệng chúng ta ngay từ thời thơ ấu. Trước khi biết diễn tả bằng bất cứ cách nào, trẻ thơ đã biết nhoẻn miệng cười, và cái cười của nó làm cho mọi người được sung sướng. Trước khi con người làm bất cứ việc gì, họ đã biết nô đùa. Nụ cười được trao ban cho chúng ta để chúng ta nhờ nụ cười có thể dâng hiến cái ngã thâm sâu của chúng ta cho tha nhân và làm cho tha nhân cảm thấy sảng khoái với sự hòa hợp tâm hồn của chúng ta và của họ.

Giá trị nhân bản và văn hóa của nụ cười thật là rõ ràng. Tiếng cười được mệnh danh là dòng nhạc của Thiên Chúa. Tiếng cười đó vang lên trong sân trường vào giờ giải lao, trong một vườn trẻ, trong một cuộc họp mặt của các bạn trẻ. Tiếng cười đã được Victor Hugo gọi là những hạt ngọc trên môi. Nhưng óc khôi hài đích thực không thể trở thành thái quá. Nó không bao giờ được mang tính khinh miệt, không bao giờ được biến thành châm chích hoặc mỉa mai, không bao giờ được mang tính vô luân hay tục tĩu. Bởi lẽ óc khôi hài chính là nụ cười của tình yêu trong sáng.

Sự khôi hài xuất hiện đúng lúc có thể giúp ngăn lại khuynh hướng muốn bi thảm hóa những chuyện lặt vặt, và trong trường hợp có những hoàn cảnh bi thảm thực sự, thì sự khôi hài giúp đưa tình trạng bi thảm đó trở về với những mức độ tương đối có thể chịu đựng được, đồng thời giúp ta nắm vững những năng lực tinh thần để có thể đương đầu. Chúng ta hãy biết cười, vì theo lời Đức Hồng y Suenens, nụ cười là sức mạnh đích thực, không chỉ hấp dẫn người khác mà còn trấn tĩnh chính bản thân. Vì thế Maguerite Baur đã khuyên: “Hãy cười vui vẻ vào những ngày đẹp trời, cười can đảm vào những ngày u ám. Đừng để mất đi tí nào những niềm vui nho nhỏ là những tia sáng của cuộc đời ta”.

Dĩ nhiên người ta có thể dùng sự châm biếm để chỉ trích sự xấu. Kinh thánh cũng có nhiều trường hợp điển hình như vậy, và các nền văn hóa còn chất chứa nhiều ví dụ loại đó. Đồng thời cũng hoàn toàn hữu lý khi chúng ta nỗ lực để có thể cười được trước những áp lực bất công. Đối với một người nào đó quá quen với một thói xấu hung ác, người ta cũng được phép dùng sự châm biếm trong một mức độ nào đó để giải tỏa ảnh hưởng của họ. Đức ái buộc ta phải bảo vệ những người vô tội và yếu ớt. Tuy nhiên, nhiều người có thể vì bị châm biếm mà trở thành khép kín, cô lập, đến độ trốn tránh tất cả mọi người. Vì vậy ngay cả trong trường hợp cần phải sử dụng sự khôi hài để sửa lỗi người khác, chúng ta vẫn phải giữ sự hòa nhã vui tươi biểu lộ một lòng yêu mến chân tình đối với họ.

Lần nọ cha Vianney gặp một bà trong xứ đến chào ngài. Biết bà là người lắm mồm lắm mép, nói huyên thuyên suốt ngày, ngài liền hỏi:
- Trong suốt năm có tháng nào bà nói ít hơn mọi tháng không?

Bà ta bỡ ngỡ trả lời:
- Thưa cha, con thì quen thói rồi, tháng nào con cũng nói như nhau cả.
- Không, có một tháng bà nói ít hơn. Bà biết tháng nào không?

Bà ngẩn ngơ:
- Tháng nào, thưa cha?
- Tháng hai, vì tháng đó chỉ có 28 ngày.

Tóm lại, một nụ cười không hao tốn gì, nhưng đem lại rất nhiều điều đáng giá. Nụ cười làm phong phú những người tiếp nhận mà không làm cho người biếu tặng nó bị nghèo nàn đi. Khi cười người ta chỉ mất một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng đôi khi ký ức về nó kéo dài mãi mãi. Không ai quá giàu để không cần đến nụ cười và cũng không ai quá nghèo đến độ không cho nó được. Nụ cười tạo ra niềm hạnh phúc trong gia đình, và là dấu hiệu hữu hình của tình bạn. Nụ cười mang lại thư giãn cho người mệt mỏi, niềm vui cho người bị thất vọng, sưởi ấm tâm hồn buồn phiền và là một loại thuốc giải độc tự nhiên mỗi khi gặp rắc rối. Khi gặp một người nào đó quá mỏi mệt đến độ không thể mỉm cười với chúng ta thì chúng ta hãy tặng người ấy nụ cười của mình.

3.2. Vai trò của óc khôi hài và của nụ cười trong đời linh mục

Óc khôi hài và nụ cười là những gì thuộc nhân bản, các linh mục chỉ có thể vun xới óc khôi hài khi vun xới tính nhân bản và việc sống chung huynh đệ. Như thế phải chăng óc khôi hài rất cần thiết trong cộng đoàn linh mục ? Thường người ta quan niệm tu hành là một cuộc đời khắc khổ. Đối với Phật giáo, kẻ tu hành đã xuống tóc, khoác áo nâu sồng, thì làm sao còn tìm vui thú? Truyền thống Kitô giáo cũng không khác gì truyền thống Phật giáo. Những nhà tu hành đầu tiên đã lánh đời, tìm vào sa mạc, sống đời nhiệm nhặt, như Simon cột. Hình ảnh ông thánh bà thánh phải có nét mặt nghiêm nghị, nếu không muốn nói là sầu bi.

Thế nhưng, nụ cười là một trong những món quà tuyệt vời nhất Thiên Chúa gửi đến cho con người. Đời sống linh mục chẳng những không bóp chết mà còn phải phát huy tất cả những gì Thiên Chúa ban. Ngoài ra, nụ cười còn là dấu chỉ của ân sủng. Quả thế, Đức J. Ratzinger đã viết: “Ở đâu óc khôi hài không còn, thì ở đó chắc chắn cũng không còn tinh thần của Đức Kitô, vì niềm vui là dấu chỉ của ân sủng”. ( J. RATZINGER, được trích dẫn trong B. HÄRING, Tự do và trung thành trong Đức Kitô (Free and faithful in Christ), tập III, do Lm Dom. Nguyễn Đức Thông dịch, tr. 533.).

Hơn nữa, nếu linh mục là con người được coi là siêu thoát, thì linh mục đồng thời cũng phải là con người biết khôi hài, bởi vì sự khôi hài ăn rễ sâu trong sự siêu thoát của nhân cách đối với hoàn cảnh sống. Theo nghĩa ngày, mỗi vị thánh trong tiềm năng là một người có óc khôi hài, cả khi xem ra như ngài rất nghiêm nghị, ít nói, đối với những ai không đủ khả năng để hiểu sự khôi hài của ngài.

Ai cũng ghê sợ bệnh phong cùi, nhưng khi cha Đamiêng, vị tông đồ nổi tiếng của các bệnh nhân phong tại đảo Molokai, thấy mình bị nhiễm bệnh ấy thì vui vẻ nói: “Tuyệt, từ nay thay vì bắt đầu bài giảng bằng câu: anh chị em thân mến, tôi sẽ nói là: thưa các bạn phong thân mến của tôi”. Các thánh dẫn ta tới sự thánh thiện trong tươi cười. Người ta kể lại rằng thánh Thomas More lúc lên máy chém đã nói với lý hình: “Xin hãy giúp tôi bước lên, còn lúc xuống thì tôi xuống một mình cũng được”.

Khi hoàng đế Napoléon của Pháp lên đến tột đỉnh tham vọng, ông tuyên bố sẽ phá đổ ngai tòa giáo hoàng và Hội Thánh. Nghe thế, Đức Hồng Y Consalvi góp ý: “Tâu hoàng đế, trong suốt 18 thế kỷ nay, hàng giám mục chúng tôi chưa phá nổi Hội Thánh vì những lỗi lầm của mình, thì làm sao một mình ngài có thể phá nổi trong vài năm”.

Sau thời cách mạng Pháp 1789, tinh thần bài giáo sĩ tại nước này đang lên cao. Một hôm có hai sĩ quan từ lâu đã mất đức tin đang đi trên đường thì nhìn thấy từ đàng xa cha thánh Gioan Maria Vianney với chiếc áo dòng đen đang đi ngược chiều về phía mình. Hai viên sĩ quan mới nói với nhau: “Nghe đồn rằng ông cha này đạo đức thánh thiện và bác ái, vậy chúng ta hãy thử xem ông ta thực sự có lòng thương người như người ta đồn đãi hay không!”. Vậy khi cha thánh đến gần, hai chàng sĩ quan giả bộ người lỡ đường và nói với ngài rằng:

- Thưa cha, chúng con là những binh sĩ về phép, dọc đường bị trộm móc túi hết cả tiền bạc và phải nhịn đói, vậy xin cha giúp chúng con một ít tiền để mua thức ăn cho đỡ đói.

Cha thánh lộ vẻ lúng túng, đoạn ngài bảo hai chàng chờ một chút, rồi ngài tiến đến một bụi rậm. Một ít phút sau ngài bước ra tiến lại gần hai chàng thanh niên với chiếc quần tây được xếp ngay ngắn trên tay và nói:

- Tiền bạc thì tôi không có, nhưng hai anh có thể cầm đỡ chiếc quần này của tôi đem bán, mặc dù nó cũ nhưng vẫn còn bán được đấy!

Lúc ấy hai chàng sĩ quan quá xúc động mới thú thực rằng họ chỉ có ý thử ngài thôi. Hai chàng cũng cho ngài biết họ đã bỏ đức tin từ lâu, nay nhìn thấy tấm gương sáng của ngài, họ muốn xin xưng tội và hứa sẽ giữ đạo đàng hoàng. Bấy giờ cha thánh ngước mắt lên trời và nói:

- Lạy Chúa, Ngài thật quá ư quảng đại! Con chỉ hy sinh có một chiếc quần cũ mà Chúa lại ban cho con những hai linh hồn!

Trong cộng đoàn linh mục cũng cần đến những người có óc khôi hài để tạo ra những nụ cười, khiến cho bầu khí sống chung đỡ căng thẳng vì những va chạm hằng ngày. Một chủng viện không có tiếng cười cũng giống như một khu rừng không có tiếng chim ca. Một cộng đoàn thiếu vắng người nghệ sĩ cũng giống như một khu vườn không có bông hoa. Không có cảnh nào vui và gây nhiều ấn tượng cộng đoàn hơn cảnh các linh mục trong những lúc gặp gỡ nhau nói cười rộn rã, câu chuyện nổ dòn như pháo Tết, những tiếng nổ không làm chết ai, nhưng đem lại niềm vui và những kỷ niệm êm đềm khó quên. Tiếng cười tự nhiên có sức hợp đoàn khiến mọi người muốn tham gia. Khi thấy có mấy chị em nữ tu đang nói cười vui quá, một chị ở đàng xa tiến lại và nói: “Các chị cười gì cho em cười với!”.

Thay vì những trò đùa châm biếm hướng về kẻ khác, một hình thức khôi hài có khả năng tạo thân thiện, đó là sự khôi hài hướng về chính mình. Những bài thơ tự trào của Nguyễn Khuyến hay Nguyễn Công Trứ thật là hay và có tác dụng vạch trần những cái xấu, cái dở, cái dỏm, bắt đầu từ chính mình. Khi chúng ta thành thực làm cho mình trở thành mục tiêu của sự khôi hài, về những cái điên rồ của mình, như cố làm ra vẻ quan trọng, cố trở nên một cái gì khác với chính mình, lúc đó chúng ta đạt được một sự quân bình. Ai có tinh thần khôi hài thì cười nhạo chính mình, ai có trí xảo thì cười nhạo người khác. Người ta thường kể những giai thoại vui tươi ý nhị như thế trong cuộc đời của cha thánh Gioan Maria Vianney.

Cha thánh Gioan Maria Vianney lúc còn là chủng sinh, học rất chậm. Ngày kia một giáo sư thần học thừa lệnh Đức Giám mục đến sát hạch ngài, để xem thử ngài có đủ khả năng làm linh mục không, nhưng ngài đã không trả lời được câu hỏi nào, khiến vị giáo sư phải nổi nóng và đập bàn quát:

- Vianney, anh dốt như con lừa! Với một con lừa như anh, Hội Thánh hy vọng làm nên trò trống gì?

Nhưng ngài khiêm tốn và bình tĩnh trả lời:

- Thưa thầy, ngày xưa ông Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại được ba ngàn quân Philitinh. Vậy với cả con lừa như con đây, Thiên Chúa không làm được việc gì sao?

Lần kia, cha thánh Vianney thấy ở trước sân nhà thờ có một quầy bán ảnh tượng và có cả hình của ngài nữa. Ngài liền dừng lại, cầm lấy tấm hình của ngài, đưa lên cao cho mọi người xung quanh xem và nói: “Thiên hạ dại dột thật, cái hình nhăn nheo như con khỉ khô này mà cũng phải mua mất một đồng quan!”. Các người đứng xung quanh được dịp cười lăn chiêng. Cha Vianney cũng cười, giao trả lại tấm ảnh rồi bước vào nhà thờ.

Niềm vui và nụ cười rất cần thiết cho cuộc đời linh mục và cho sứ vụ tông đồ: nó giúp cho tình huynh đệ ngày càng lớn lên như cây cối dưới ánh sáng mặt trời và giúp cho công việc mục vụ tông đồ dễ đạt kết quả. Guy de Larigaudie đã nói: “Một khuôn mặt vui vẻ, đó là một mặt trời rặng rỡ. Nó soi sáng và sưởi ấm hết mọi người nó gặp gỡ”. Niềm vui và nụ cười phát xuất từ một tâm hồn lạc quan, khiến cho bất cứ điều tồi tệ nào cũng có thể vượt qua hoặc chấp nhận dễ dàng. Ngoài ra, nơi người linh mục, niềm vui siêu nhiên phát xuất từ một tâm hồn trong sạch và từ tâm tình tri ân đối với Thiên Chúa, có sức giúp các linh mục trở nên giống Đức Maria trong cuộc đời dâng hiến: với tâm hồn trong trắng đơn sơ Mẹ thưa Fiat, với niềm vui tri ân Mẹ thưa Magnificat, và cuối cùng với tâm tình phó thác Mẹ Stabat vững vàng dưới chân thập giá.

Giờ chầu bế mạc, trước Chúa Giêsu Thánh Thể, từng linh mục lập lại lời nguyện tận hiến: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con chính ngài nắm giữ”. (TV 15,7).

Tuần tĩnh tâm giúp nhiều ơn ích thiêng liêng cho các linh mục. Kết quả sâu lắng của tĩnh tâm sẽ rao sao, chỉ có cá nhân linh mục và Chúa Thánh Thần biết, nhưng kết quả trước mắt ai cũng thấy được chính là việc bồi dưỡng tình huynh đệ linh mục.

Sáng mai, ngày 13.1.2012, Đức Cha Giuse, Đức Cha Mathêu, có thể có thêm Đức Cha Nicôla, Đức Cha Phaolô, cùng linh mục đoàn hành hương về bên Mẹ Tàpao. Dâng thánh lễ tạ ơn và bế mạc tuần tĩnh tâm.