BẮC NINH - Chúa nhật, ngày 07.11.2010, Đức giám mục Giáo Phận Bắc Ninh Cosma Hoàng Văn Đạt đã về Giáo xứ Thiết Nham, Giáo Phận Bắc Ninh dâng thánh lễ nhân dịp Năm Thánh Giáo Hội Việt Nam 2010. Hiệp dâng thánh lễ có cha quản xứ Thiết Nham Giuse Bùi Xuân Bính, cha quản hạt Bắc Giang Giuse Nguyễn Huy Tảo, cha quản xứ Bỉ Nội Giuse Hoàng Trọng Hựu, cha quản xứ Tân An Đaminh Bùi Văn Sáu, cha Đaminh Nguyễn Văn Bích, cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thắng và thày Phó tếGiuse Nguyễn Văn Tĩnh cùng đông đảo bà con trong giáo xứ Thiết Nham.
Xem hình ảnh
Điều đặc biệt trong thánh lễ, Đức Cha Giáo Phận giới thiệu hai vị thánh đã đến ở Giáo xứ Thiết Nham, đó là Thánh Giuse Đặng Đình Viên và Thánh Almatô Bình Tử Đạo. Có thể nói: Giáo xứ Thiết Nham vô cùng tự hào vì nơi đây đã có hai vị thánh, và như cha Quan Hạt Bắc Giang chia sẻ sau thánh lễ: Thiết Nham là “đất thánh”.
Chúng ta tri ân các bậc Tiền Nhân đã hy sinh đến phục vụ Giáo xứ. Và theo ước nguyện của Đức Cha, ngày nào đó chúng ta phải dựng tượng các Thánh để nhớ các ngài.
Sau đây là tiểu sử của hai vị thánh được Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt biên soạn:
Thánh Giuse Đặng Đình Viên, Linh mục (1785-1838)
Trong một trường hợp không ngờ, ngày 17.4.1838, thầy giảng Vũ Văn Lân cầm 6 lá thư bị bắt. Thầy giảng này do cha Giuse Đặng Đình Viên nhờ đi lấy dầu thánh, nhân tiện chuyển thư cha 2 đức cha và 4 cha. Khi thầy đi qua làng Kẻ Rèm (họ Bơm hay An Lập ) thì bị bắt. Người lương làng Kẻ Rèm không ưa đạo vì người Công Giáo không đóng góp vào việc cúng tế, nên nộp thầy cùng với 6 lá thư cho quan. Thế là cuộc tử đạo của cha Giuse Đặng Đình Viên khởi đầu.
Thánh Giuse Đặng Đình Viên sinh năm 1785 tại Tiên Chu, tỉnh Hưng Yên. Mồ côi cha rừ nhỏ, ngài theo giúp các thừa sai rồi được nhận vào chủng viện. Ngài thụ phong linh mục năm 1821 và được cử làm cha phó xứ Lục Thủy, tỉnh Nam Định. Hai năm sau, ngài được sai lên tỉnh Bắc, giúp các họ Đông Bài, Thiết Nham, Như Thiết và An Mỹ. Suốt 17 năm thi hành sứ vụ linh mục, ngài nổi tiếng là một mục tử đạo đức, siêng năng giảng Lời Chúa, và được mọi người quý mến.
Sau khi bắt được thầy giảng cầm 6 lá thư, quan tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương định giấu nhẹm đi, nhưng quan tổng đốc Nam Định là Trịnh Quang Khanh lại đem vào Huế khoe với vua Minh Mệnh. Vua liền thịnh nộ cho rằng quan lại phía bắc bao che cho tà đạo và dọa truất chức tổng đốc của Trịnh Quang Khanh nếu không bắt được tác giả cũng như 6 người lẽ ra sẽ nhận thư. Tuần phủ Hưng Yên được lệnh bằng mọi giá phải bắt được cha Viên, nếu không phải chịu tội thay. Một chiến dịch bách hại đẫm máu diễn ra tại Nam Định và Hưng Yên. Hai đức cha Delgado Y và Henares Minh cùng với cha chính Hiền giáo phận Đông Đàng Ngoài và nhiều linh mục khác bị bắt và bị giết. Ấy là chưa kể những tổn thất về cơ sở và việc xáo trộn mọi sinh họat đạo ở cả một vùng rộng lớn, đông giáo dân nhất trong cả nước.
Tại Hưng Yên, quan quân sục sạo khắp nơi mà vẫn không tìm được tác giả các lá thư. Các quan phải dùng mưu: họ giả mạo thư của gia đình cha Viên và mua chuộc được 2 người Công Giáo trong họ hàng của ngài. Hai người này cầm thư đi tìm người chỉ chỗ ngài trốn. Ngày 1.8.1838, khi biết chắc ngài đang ở Cầu Chay, tức họ Như Thiết, quan cho lính đến vây bắt, nhưng ngài kịp chạy trốn vào khu vườn mía rậm rạp. Éo le thay, quan quân tức giận vì bứt hụt, nên lại dùng mưu bắt ngay đứa con trai nhỏ của chủ nhà đang cho ngài trú ẩn ra tra khảo. Đứa bé đau quá, kêu lớn: “Giêsu, Maria, cứu con với!” Nghe tiếng kêu la đau đớn từ miệng trẻ thơ, ngài xúc động và bước ra nộp mình: “Tôi là đạo trưởng Viên các anh đang tìm bắt đây.” Ngài bị đóng gông dẫn giải về thị xã Hưng Yên.
Tại Hưng Yên, các quan bắt ngài phiên dịch các lá thư ngài đã viết ra tiếng Việt. Đến khi thấy các lá thư ấy không có gì là bí mật hay âm mưu nào, họ khuyên ngài chối đạo để được tha. Ngài cương quyết trả lời: “Dù có phải chết tôi cũng không quá khoá. Tôi là đạo trưởng mà bỏ đạo thì còn ai theo đạo nữa!” Nghày 3.8, các quan gửi án về kinh đô Huế xin vua ra lệnh xử trảm. Ngày 21.8, bản án được châu phê và về đến Hưng Yên. Các quan cố thuyết phục ngài lần chót nhưng vô hiệu, nên tuyên đọc bản án và đem thi hành ngay. Thẻ bài ghi bản án như sau: “Đạo trưởng Đặng Đình Viên tùng gian tà đạo, liên lạc đạo trưởng Tây Nam, tụ tập đạo đồ, đạo chúng, đạo thư, bất khẳng khoá quá, vi phạm quốc pháp, luật hình trảm quyết.”
Trên đường ra pháp trường Ba Toà, cha Viên sung sướng cảm động tạ ơn Chúa. Khi đó hai người họ hàng đã dẫn quan quân đi bắt ngài đến xin ngài tha thứ, ngài nói: “Cha tha cho các con.” Sau khi ăn chút cơm, ngài quỳ trên chiếc chăn bông được giáo dân trải sẵn, ngước mắt lên trời cầu nguyện. Khi lệnh được ban, lý hình vung gươm đưa vị chứng nhân Đức Kitô lên đài vinh quang. Các tín hữu ùa vào thấm máu ngài. Một người lính thấy vậy thì lấy áo của ngài cắt ra để bán. Thi hài ngài được khoảng 300 giáo dân long trọng rước về an táng tại nhà thờ Tiên Chu.
Cha Giuse Đặng Đình Viên được ghi tên vào số các chân phước năm 1900 và được dtc Gioan Phaolô II tuyên thánh năm 1988.
Thánh Phêrô Almatô Bình, Linh mục dòng Đaminh (1831 – 1861)
Xâu chuỗi và thanh gươm
Chân dung của thánh Almatô Bình được phác họa dưới hình một tu sĩ Đaminh có vầng trán rộng của sự thông minh, với bộ râu của người nghị lực. Cặp mắt ngài đăm đăm nhìn xuống đôi tay: tay phải cầm ngành lá vạn tuế, một chuỗi Mân Côi và một thanh đao to bản, tay trái khẽ nâng cao mũi dao, với ngón tay cái đang chạm vào lưỡi, như muốn thử nó sắc cỡ nào, trên môi hé nở một nụ cười.
Bức chân dung ấy nói lên hai đặc điểm của vị thánh: Tín nhiệm vào Đức Maria và suốt đời trân trọng phúc tử đạo, không đâm đầu tìm cái chết, nhưng vui tươi đón nhận nó.
Nụ hoa kết trái
Phêrô Almatô chào đời vào lễ Các Thánh 01.11.1831 tại làng Santo Felice Saserra, xứ Vich, miền Cataluna nước Tây Ban Nha. Thân phụ ngài là ông Salvio Almato làm nghề y sĩ và thân mẫu là bà Antinia. Ngài có một người bác là linh mục kinh sĩ phụ trách giải tội cho khắp giáo phận và người em gái sau cũng đi tu. Từ thơ ấu, ngài đã có những dấu hiệu hâm mộ đời tu trì. Khi ngồi một mình, ngài thích xếp hình các nhà thờ hoặc bắt chước các linh mục dâng lễ. Thỉnh thoảng ngài tập họp các trẻ nhỏ tuổi hơn để cùng lần hạt Mân Côi, hoặc kể chuyện giáo lý cho chúng nghe.
Năm 15 tuổi, gia đình cho ngài vào chủng viện. Tại đây, ngài có cơ hội đọc các bản tin về truyền giáo của tỉnh dòng Đaminh Mân Côi tại Viễn Đông. Từ đó, khát vọng truyền giáo luôn sục sôi trong lòng ngài. Khi được Đức Giám mục Claret khuyến khích, ngài quyết định giã từ bạn bè và gia đình để đến Ocana xin vào dòng Đaminh. Sau thời gian thử thách, ngày 25.09.1847, ngài được lãnh tu phục vào tập viện, và ngày 26.09.1848, ngài tuyên khấn.
Tháng 09.1849, thầy Almato đến Manila tiếp tục học thần học. Ngoài những giờ miệt mài học tập, ngài thích tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện và đọc sách thiêng liêng. Năm 1854, ngài thụ phong linh mục và năm sau được phái đến phục vụ tại Việt Nam. Ngày 04.08.1855, cha Almato đến giáo phận Đông Đàng Ngoài.
Khó khăn và nghị lực
Khi mới đến Việt Nam, cha Almato nhận tên là Bình, ở Nam Am và Đông Xuyên. Sau đó ngài về chủng viện Kẻ Mốt để học tiếng Việt với cha Gaspar Nghĩa, rồi được cử đi phụ trách xứ Thiết Nham hơn một năm. Tình trạng sức khỏe của cha Almato Bình thật yếu kém, ngài bị bệnh thường xuyên. Nhưng bên trong thân xác yếu đuối đó là một khối nghị lực tưởng chừng như vô tận, đủ sức đưa ngài vượt mọi khó khăn thử thách của môi trường truyền giáo.
Từ năm 1857, cuộc bách hại ngày càng khốc liệt, cha Bình bó buộc phải nay đây mai đó, ít khi được yên ổn. Ban ngày thì phải trốn trong hầm ẩm thấp, ban đêm mới ra ngoài, đi thuyền lẻn đến phục vụ giáo hữu hai bên sông. Những hôm nào bị bao vây bất ngờ, ngài phải ngủ trong bụi rậm, bụi tre hoặc phải băng sông lội suối dưới trời mưa lạnh giá. Bệnh hoạn, đói rách và nguy cơ bị bắt, như ba tai họa thường xuyên đe doạ ngài, nhưng vị tông đồ của Chúa đã thắng vượt được tất cả nhờ chí khí can trường và tinh thần hăng say của tuổi trẻ. Khi tình hình cấm đạo trở lên gay gắt hơn, các thừa sai Đaminh quyết định chia một nửa tạm lánh sang Macao, ngài tình nguyện xin ở lại Việt Nam.
Trong một thư gửi cho gia đình, ngài viết: "Con và một linh mục nữa đã ẩn mình bảy, tám tháng nay trong một nhà có sẵn hang ở dưới lòng đất để núp khi quan quân vây bắt. Nhưng nay mai nếu cha mẹ có nghe tin con bị bắt thì xin cha mẹ đừng khóc làm chi. Hãy vui mừng vì con được phúc trọng dường ấy".
Từ tháng 08.1861, dưới ảnh hưởng của chiếu chỉ phân sáp, hàng giáo sĩ dường như không thể tìm được chỗ nào an toàn để ẩn náu. Cha Almato Bình trước đã rời Thiết Nham sang Kẻ Nê rồi ẩn nấp ở Thọ Ninh, nay lại xuống thuyền đi với Đức cha Valentino Vinh xuôi theo dòng sông Thái Bình. Đến Hải Dương, hai vị gặp Đức cha Hermosilla Liêm và thầy giảng Giuse Khang. Ngày 20.10.1861, khi Đức cha Liêm và thầy giảng Giuse Khang bị bắt, thì cha Bình và Đức cha Vinh cũng đang ở trên một thuyền khác, nhưng may mắn đã chạy thoát được.
Sau biến cố đó, hai vị thấy trốn trên thuyền không yên ổn nữa, nên khi một giáo hữu là ông Cựu Trọng giới thiệu hai vị tới trọ tại nhà một người ngoại giáo là ông lang Thửa, hai vị đã đến đó và được tiếp đón niềm nở. Tuy nhiên người cháu của ông lang là Khán Cáp, khi biết tin này, liền báo với quan để lãnh thưởng. Để khỏi mang tiếng xấu, anh ta mời các vị thừa sai đi ẩn chỗ khác, rồi dẫn hai vị ra đồng ruộng cho quan huyện Thanh Hà đến bắt. Hôm đó là ngày 25.10.1861.
Phúc trường sinh
Quan Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Quốc Cẩm thấy các giáo sĩ Tây có dáng vẻ hiền lành nên không đành tâm đối xử tàn nhẫn. Ông chỉ điều tra qua loa về tên tuổi và việc giảng đạo. Cha Bình trả lời: "Tôi là đạo trưởng, tên là Bình, người Y Pha Nho, sang An Nam giảng đạo được bảy năm tại nhiều nơi". Nhưng cha không nói rõ địa điểm nào cả.
Tuy quan tổng đốc Hải Dương cho giam mỗi vị vào một cũi, nhưng ông ra lệnh cho viên cai ngục phải đối xử tử tế và nghiêm cấm ăn nói lỗ mãng. Thái độ "nương tay" trên đã được đồn đại đến tai tổng đốc Nam Định là Nguyễn Đình Tân. Ông ny đích thân ra Hải Dương và dùng quyền ép viên tổng đốc ở đây phải lên án trảm quyết.
Ngày 01.11.1861, cha Almato Bình tròn 30 tuổi, lại chính là ngày sinh nhật trên trời của ngài. Hôm ấy, hai vị Giám mục Hermosilla Liêm và Berrio Ochoa Vinh và cha Amato Bình mỗi vị bị nhốt trong một cái cũi và được khiêng ra pháp trường, theo sau một toán lính đông đảo. Cha Bình trong cũi đầu tiên, tay cầm chuỗi Mân Côi bình thản cầu nguyện khiến mọi người hiện diện phải bỡ ngỡ. Tại pháp trường Năm Mẫu, sau ít phút cầu nguyện, lý hình đã chém đầu các ngài trong tiếng chiêng đổ dồn. Thi thể ba vị được chôn cất ngay tại nơi xử án, sau dời về Thọ Ninh. Hiện nay, thủ cấp cha Almato Bình được tôn kính ở quê hương Tây Ban Nha, còn hài cốt của cha được an táng trong thánh đường kính bốn thánh tử đạo Hải Dương.
Ngày 20.05.1906, Đức Piô X đã suy tôn cha Phêrô Almato Bìnhlên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.đặng đình viên,
Xem hình ảnh
Điều đặc biệt trong thánh lễ, Đức Cha Giáo Phận giới thiệu hai vị thánh đã đến ở Giáo xứ Thiết Nham, đó là Thánh Giuse Đặng Đình Viên và Thánh Almatô Bình Tử Đạo. Có thể nói: Giáo xứ Thiết Nham vô cùng tự hào vì nơi đây đã có hai vị thánh, và như cha Quan Hạt Bắc Giang chia sẻ sau thánh lễ: Thiết Nham là “đất thánh”.
Chúng ta tri ân các bậc Tiền Nhân đã hy sinh đến phục vụ Giáo xứ. Và theo ước nguyện của Đức Cha, ngày nào đó chúng ta phải dựng tượng các Thánh để nhớ các ngài.
Sau đây là tiểu sử của hai vị thánh được Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt biên soạn:
Thánh Giuse Đặng Đình Viên, Linh mục (1785-1838)
Trong một trường hợp không ngờ, ngày 17.4.1838, thầy giảng Vũ Văn Lân cầm 6 lá thư bị bắt. Thầy giảng này do cha Giuse Đặng Đình Viên nhờ đi lấy dầu thánh, nhân tiện chuyển thư cha 2 đức cha và 4 cha. Khi thầy đi qua làng Kẻ Rèm (họ Bơm hay An Lập ) thì bị bắt. Người lương làng Kẻ Rèm không ưa đạo vì người Công Giáo không đóng góp vào việc cúng tế, nên nộp thầy cùng với 6 lá thư cho quan. Thế là cuộc tử đạo của cha Giuse Đặng Đình Viên khởi đầu.
Thánh Giuse Đặng Đình Viên sinh năm 1785 tại Tiên Chu, tỉnh Hưng Yên. Mồ côi cha rừ nhỏ, ngài theo giúp các thừa sai rồi được nhận vào chủng viện. Ngài thụ phong linh mục năm 1821 và được cử làm cha phó xứ Lục Thủy, tỉnh Nam Định. Hai năm sau, ngài được sai lên tỉnh Bắc, giúp các họ Đông Bài, Thiết Nham, Như Thiết và An Mỹ. Suốt 17 năm thi hành sứ vụ linh mục, ngài nổi tiếng là một mục tử đạo đức, siêng năng giảng Lời Chúa, và được mọi người quý mến.
Sau khi bắt được thầy giảng cầm 6 lá thư, quan tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương định giấu nhẹm đi, nhưng quan tổng đốc Nam Định là Trịnh Quang Khanh lại đem vào Huế khoe với vua Minh Mệnh. Vua liền thịnh nộ cho rằng quan lại phía bắc bao che cho tà đạo và dọa truất chức tổng đốc của Trịnh Quang Khanh nếu không bắt được tác giả cũng như 6 người lẽ ra sẽ nhận thư. Tuần phủ Hưng Yên được lệnh bằng mọi giá phải bắt được cha Viên, nếu không phải chịu tội thay. Một chiến dịch bách hại đẫm máu diễn ra tại Nam Định và Hưng Yên. Hai đức cha Delgado Y và Henares Minh cùng với cha chính Hiền giáo phận Đông Đàng Ngoài và nhiều linh mục khác bị bắt và bị giết. Ấy là chưa kể những tổn thất về cơ sở và việc xáo trộn mọi sinh họat đạo ở cả một vùng rộng lớn, đông giáo dân nhất trong cả nước.
Tại Hưng Yên, quan quân sục sạo khắp nơi mà vẫn không tìm được tác giả các lá thư. Các quan phải dùng mưu: họ giả mạo thư của gia đình cha Viên và mua chuộc được 2 người Công Giáo trong họ hàng của ngài. Hai người này cầm thư đi tìm người chỉ chỗ ngài trốn. Ngày 1.8.1838, khi biết chắc ngài đang ở Cầu Chay, tức họ Như Thiết, quan cho lính đến vây bắt, nhưng ngài kịp chạy trốn vào khu vườn mía rậm rạp. Éo le thay, quan quân tức giận vì bứt hụt, nên lại dùng mưu bắt ngay đứa con trai nhỏ của chủ nhà đang cho ngài trú ẩn ra tra khảo. Đứa bé đau quá, kêu lớn: “Giêsu, Maria, cứu con với!” Nghe tiếng kêu la đau đớn từ miệng trẻ thơ, ngài xúc động và bước ra nộp mình: “Tôi là đạo trưởng Viên các anh đang tìm bắt đây.” Ngài bị đóng gông dẫn giải về thị xã Hưng Yên.
Tại Hưng Yên, các quan bắt ngài phiên dịch các lá thư ngài đã viết ra tiếng Việt. Đến khi thấy các lá thư ấy không có gì là bí mật hay âm mưu nào, họ khuyên ngài chối đạo để được tha. Ngài cương quyết trả lời: “Dù có phải chết tôi cũng không quá khoá. Tôi là đạo trưởng mà bỏ đạo thì còn ai theo đạo nữa!” Nghày 3.8, các quan gửi án về kinh đô Huế xin vua ra lệnh xử trảm. Ngày 21.8, bản án được châu phê và về đến Hưng Yên. Các quan cố thuyết phục ngài lần chót nhưng vô hiệu, nên tuyên đọc bản án và đem thi hành ngay. Thẻ bài ghi bản án như sau: “Đạo trưởng Đặng Đình Viên tùng gian tà đạo, liên lạc đạo trưởng Tây Nam, tụ tập đạo đồ, đạo chúng, đạo thư, bất khẳng khoá quá, vi phạm quốc pháp, luật hình trảm quyết.”
Trên đường ra pháp trường Ba Toà, cha Viên sung sướng cảm động tạ ơn Chúa. Khi đó hai người họ hàng đã dẫn quan quân đi bắt ngài đến xin ngài tha thứ, ngài nói: “Cha tha cho các con.” Sau khi ăn chút cơm, ngài quỳ trên chiếc chăn bông được giáo dân trải sẵn, ngước mắt lên trời cầu nguyện. Khi lệnh được ban, lý hình vung gươm đưa vị chứng nhân Đức Kitô lên đài vinh quang. Các tín hữu ùa vào thấm máu ngài. Một người lính thấy vậy thì lấy áo của ngài cắt ra để bán. Thi hài ngài được khoảng 300 giáo dân long trọng rước về an táng tại nhà thờ Tiên Chu.
Cha Giuse Đặng Đình Viên được ghi tên vào số các chân phước năm 1900 và được dtc Gioan Phaolô II tuyên thánh năm 1988.
Thánh Phêrô Almatô Bình, Linh mục dòng Đaminh (1831 – 1861)
Xâu chuỗi và thanh gươm
Chân dung của thánh Almatô Bình được phác họa dưới hình một tu sĩ Đaminh có vầng trán rộng của sự thông minh, với bộ râu của người nghị lực. Cặp mắt ngài đăm đăm nhìn xuống đôi tay: tay phải cầm ngành lá vạn tuế, một chuỗi Mân Côi và một thanh đao to bản, tay trái khẽ nâng cao mũi dao, với ngón tay cái đang chạm vào lưỡi, như muốn thử nó sắc cỡ nào, trên môi hé nở một nụ cười.
Bức chân dung ấy nói lên hai đặc điểm của vị thánh: Tín nhiệm vào Đức Maria và suốt đời trân trọng phúc tử đạo, không đâm đầu tìm cái chết, nhưng vui tươi đón nhận nó.
Nụ hoa kết trái
Phêrô Almatô chào đời vào lễ Các Thánh 01.11.1831 tại làng Santo Felice Saserra, xứ Vich, miền Cataluna nước Tây Ban Nha. Thân phụ ngài là ông Salvio Almato làm nghề y sĩ và thân mẫu là bà Antinia. Ngài có một người bác là linh mục kinh sĩ phụ trách giải tội cho khắp giáo phận và người em gái sau cũng đi tu. Từ thơ ấu, ngài đã có những dấu hiệu hâm mộ đời tu trì. Khi ngồi một mình, ngài thích xếp hình các nhà thờ hoặc bắt chước các linh mục dâng lễ. Thỉnh thoảng ngài tập họp các trẻ nhỏ tuổi hơn để cùng lần hạt Mân Côi, hoặc kể chuyện giáo lý cho chúng nghe.
Năm 15 tuổi, gia đình cho ngài vào chủng viện. Tại đây, ngài có cơ hội đọc các bản tin về truyền giáo của tỉnh dòng Đaminh Mân Côi tại Viễn Đông. Từ đó, khát vọng truyền giáo luôn sục sôi trong lòng ngài. Khi được Đức Giám mục Claret khuyến khích, ngài quyết định giã từ bạn bè và gia đình để đến Ocana xin vào dòng Đaminh. Sau thời gian thử thách, ngày 25.09.1847, ngài được lãnh tu phục vào tập viện, và ngày 26.09.1848, ngài tuyên khấn.
Tháng 09.1849, thầy Almato đến Manila tiếp tục học thần học. Ngoài những giờ miệt mài học tập, ngài thích tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện và đọc sách thiêng liêng. Năm 1854, ngài thụ phong linh mục và năm sau được phái đến phục vụ tại Việt Nam. Ngày 04.08.1855, cha Almato đến giáo phận Đông Đàng Ngoài.
Khó khăn và nghị lực
Khi mới đến Việt Nam, cha Almato nhận tên là Bình, ở Nam Am và Đông Xuyên. Sau đó ngài về chủng viện Kẻ Mốt để học tiếng Việt với cha Gaspar Nghĩa, rồi được cử đi phụ trách xứ Thiết Nham hơn một năm. Tình trạng sức khỏe của cha Almato Bình thật yếu kém, ngài bị bệnh thường xuyên. Nhưng bên trong thân xác yếu đuối đó là một khối nghị lực tưởng chừng như vô tận, đủ sức đưa ngài vượt mọi khó khăn thử thách của môi trường truyền giáo.
Từ năm 1857, cuộc bách hại ngày càng khốc liệt, cha Bình bó buộc phải nay đây mai đó, ít khi được yên ổn. Ban ngày thì phải trốn trong hầm ẩm thấp, ban đêm mới ra ngoài, đi thuyền lẻn đến phục vụ giáo hữu hai bên sông. Những hôm nào bị bao vây bất ngờ, ngài phải ngủ trong bụi rậm, bụi tre hoặc phải băng sông lội suối dưới trời mưa lạnh giá. Bệnh hoạn, đói rách và nguy cơ bị bắt, như ba tai họa thường xuyên đe doạ ngài, nhưng vị tông đồ của Chúa đã thắng vượt được tất cả nhờ chí khí can trường và tinh thần hăng say của tuổi trẻ. Khi tình hình cấm đạo trở lên gay gắt hơn, các thừa sai Đaminh quyết định chia một nửa tạm lánh sang Macao, ngài tình nguyện xin ở lại Việt Nam.
Trong một thư gửi cho gia đình, ngài viết: "Con và một linh mục nữa đã ẩn mình bảy, tám tháng nay trong một nhà có sẵn hang ở dưới lòng đất để núp khi quan quân vây bắt. Nhưng nay mai nếu cha mẹ có nghe tin con bị bắt thì xin cha mẹ đừng khóc làm chi. Hãy vui mừng vì con được phúc trọng dường ấy".
Từ tháng 08.1861, dưới ảnh hưởng của chiếu chỉ phân sáp, hàng giáo sĩ dường như không thể tìm được chỗ nào an toàn để ẩn náu. Cha Almato Bình trước đã rời Thiết Nham sang Kẻ Nê rồi ẩn nấp ở Thọ Ninh, nay lại xuống thuyền đi với Đức cha Valentino Vinh xuôi theo dòng sông Thái Bình. Đến Hải Dương, hai vị gặp Đức cha Hermosilla Liêm và thầy giảng Giuse Khang. Ngày 20.10.1861, khi Đức cha Liêm và thầy giảng Giuse Khang bị bắt, thì cha Bình và Đức cha Vinh cũng đang ở trên một thuyền khác, nhưng may mắn đã chạy thoát được.
Sau biến cố đó, hai vị thấy trốn trên thuyền không yên ổn nữa, nên khi một giáo hữu là ông Cựu Trọng giới thiệu hai vị tới trọ tại nhà một người ngoại giáo là ông lang Thửa, hai vị đã đến đó và được tiếp đón niềm nở. Tuy nhiên người cháu của ông lang là Khán Cáp, khi biết tin này, liền báo với quan để lãnh thưởng. Để khỏi mang tiếng xấu, anh ta mời các vị thừa sai đi ẩn chỗ khác, rồi dẫn hai vị ra đồng ruộng cho quan huyện Thanh Hà đến bắt. Hôm đó là ngày 25.10.1861.
Phúc trường sinh
Quan Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Quốc Cẩm thấy các giáo sĩ Tây có dáng vẻ hiền lành nên không đành tâm đối xử tàn nhẫn. Ông chỉ điều tra qua loa về tên tuổi và việc giảng đạo. Cha Bình trả lời: "Tôi là đạo trưởng, tên là Bình, người Y Pha Nho, sang An Nam giảng đạo được bảy năm tại nhiều nơi". Nhưng cha không nói rõ địa điểm nào cả.
Tuy quan tổng đốc Hải Dương cho giam mỗi vị vào một cũi, nhưng ông ra lệnh cho viên cai ngục phải đối xử tử tế và nghiêm cấm ăn nói lỗ mãng. Thái độ "nương tay" trên đã được đồn đại đến tai tổng đốc Nam Định là Nguyễn Đình Tân. Ông ny đích thân ra Hải Dương và dùng quyền ép viên tổng đốc ở đây phải lên án trảm quyết.
Ngày 01.11.1861, cha Almato Bình tròn 30 tuổi, lại chính là ngày sinh nhật trên trời của ngài. Hôm ấy, hai vị Giám mục Hermosilla Liêm và Berrio Ochoa Vinh và cha Amato Bình mỗi vị bị nhốt trong một cái cũi và được khiêng ra pháp trường, theo sau một toán lính đông đảo. Cha Bình trong cũi đầu tiên, tay cầm chuỗi Mân Côi bình thản cầu nguyện khiến mọi người hiện diện phải bỡ ngỡ. Tại pháp trường Năm Mẫu, sau ít phút cầu nguyện, lý hình đã chém đầu các ngài trong tiếng chiêng đổ dồn. Thi thể ba vị được chôn cất ngay tại nơi xử án, sau dời về Thọ Ninh. Hiện nay, thủ cấp cha Almato Bình được tôn kính ở quê hương Tây Ban Nha, còn hài cốt của cha được an táng trong thánh đường kính bốn thánh tử đạo Hải Dương.
Ngày 20.05.1906, Đức Piô X đã suy tôn cha Phêrô Almato Bìnhlên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.đặng đình viên,